|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 104/2024/HS-ST Ngày 25 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định
Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành và bà Nguyễn Thị Vịnh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 89/2024/QĐXXST-HS ngày 11/9/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Anh Tuấn N, tên gọi khác: không có; sinh ngày 20 tháng 02 năm 2000 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: khu A, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Anh T và bà Trần Thị Vân A; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; đầu thú ngày 16 tháng 12 năm 2023; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh từ ngày 02 tháng 02 năm 2024 đến ngày 28 tháng 10 năm 2024, hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Lê Tố D, sinh năm 1993; địa chỉ: khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt).
Người làm chứng:
- Ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1953; địa chỉ: khu A, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Ngô Đức T3, sinh năm 1997; địa chỉ: khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Phạm Hữu T4, sinh năm 1988; địa chỉ: khu B, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Trần Thị Vân A, sinh năm 1978; địa chỉ: khu B, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; địa chỉ: khu A, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Đỗ Thị Hải Y, sinh năm 1977; địa chỉ: khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1961; địa chỉ: khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15/12/2023 sau khi đi ăn uống, hát karaoke cùng một số người bạn, anh Lê Tố D (sinh năm 1993, trú tại khu G, phường P, thị xã Q) và anh Ngô Đức T3 (sinh năm 1997, trú tại khu D, phường P, thị xã Q) đến quán M1 “Thái Thuỷ” của gia đình ông Trần Ngọc T2 ở khu A, phường Q, thị xã Q để tẩm quất massage. Tại quán, ông T2 yêu cầu anh D mua tiền vé trước nhưng anh D không thanh toán tiền được, sau đó cả hai xảy ra to tiếng cãi nhau, ông T2 đẩy anh D ra ngoài đường không nhận massage tại quán nữa thì anh T3 cũng ra theo. Tại khu vực đường trước cửa quán, do sợ bị anh D, anh T3 đánh nên ông T2 đã gọi Trần Anh Tuấn N (cháu ngoại ông T2) đang tắm ở trong nhà bên cạnh quán ra. Khi N đi ra thấy ông T2 đang cãi nhau với anh D, anh T3 thì đến chỗ hai người này hỏi “có việc gì không”, ông T2 sợ xảy ra xô xát nên đẩy N vào trong nhà. N đứng ở cửa quán thấy ông T2 đẩy anh T3 và thấy anh D dùng tay đẩy vào cổ ông T2 lùi lại phía sau. Thấy vậy N đã xông đến dùng tay phải đấm 01 phát vào mặt anh D làm anh D ngã ngửa đập đầu xuống nền đường bất tỉnh. N tiếp tục xô xát tay chân với anh T3, ông T2 chạy vào trong nhà cầm 01 đoạn ống nhựa vụt 01 phát vào lưng anh T3. Sau đó ông T2 can ngăn N không đánh anh T3 nữa, anh D được mọi người đưa đi cấp cứu.
Cơ quan điều tra đã khám nghiệm hiện trường, trích xuất, thu giữ các đoạn video từ camera lắp đặt tại quán M1” có ghi lại diễn biến vụ việc, cụ thể: Trong khoảng thời gian từ 18 giờ 09 phút 10 giây đến 18 giờ 09 phút 16 giây ngày 15/12/2023, ông T2 có hành vi đẩy anh T3; anh D có hành vi dùng tay đẩy vào cổ ông T2 lùi ra và không có hành động nào khác đánh ông T2; N đứng ở cửa quán xông đến dùng tay phải đấm 01 phát vào mặt anh D làm anh D ngã ngửa đập đầu xuống nền đường bất tỉnh. Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 đoạn ống nhựa (dài 74 cm, đường kính 4,5 cm) do ông T2 giao nộp.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 12/CNTT-BVVNTĐ ngày 12/01/2024 của Bệnh viện V - Thụy Điển - Uông Bí xác nhận thương tích của anh Lê Tố D khi vào viện ngày 15/12/2023 như sau: Sưng nề, bầm tím vùng chẩm trái kích thước (KT) khoảng (05 x 04)cm, vết thương cánh mũi phải xuyên vào sàn mũi dài khoảng 04cm. Chụp CT.Scanner sọ não thấy hình ảnh chảy máu màng mềm ít lều tiểu não và thuỳ trán phải, tổn thương dạng tụ máu nhu mô nhỏ và giảm nhẹ tỷ trọng nhu mô não thuỳ trán phải, các tổn thương không gây hiệu ứng khối.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 64/TgT ngày 26/01/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Q kết luận thương tích của anh Lê Tố D như sau: Tụ máu dưới màng cứng vùng trán hai bên hiện không còn hình ảnh tổn thương trên CT-Scanner sọ não bị thương tích tổn hại 08% sức khoẻ; chảy máu khoang dưới nhện rải rác vùng trán đỉnh hai bên hiện không còn hình ảnh tổn thương trên CT-Scanner sọ não bị thương tích tổn hại 08% sức khoẻ; dập não hiện nhu mô não trán phải có ổ giảm tỷ trọng KT (18 x 14)cm bị thương tích tổn hại 21% sức khoẻ; sẹo vết thương cánh mũi phải KT nhỏ bị thương tích tổn hại 03% sức khoẻ. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 35% sức khoẻ. Các tổn thương nêu trên do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
Tại Công văn số 11/24/CV-TTPY ngày 28/3/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Q trả lời: Căn cứ vào hồ sơ y tế của Bệnh viện V - Thụy Điển - Uông Bí xác định các tổn thương của anh Lê Tố D phù hợp với thời gian ngày 15/12/2023. Thương tích chấn thương sọ não của anh D có thể do bị tác động ngoại lực từ vùng chẩm gây nên các tổn thương phía đối diện (tụ máu dưới màng cứng vùng trán hai bên, chảy máu khoang dưới nhện vùng trán đỉnh hai bên, dập não thùy trán phải).
Ngày 16/12/2023 Trần Anh Tuấn N đến Công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai nhận khi thấy ông T2 đẩy anh T3 và thấy anh D túm cổ áo đẩy ông T2 lùi ra sau, nghĩ anh D đánh ông T2 nên N đã xông đến đấm 01 phát vào mặt anh D làm anh D ngã ngửa đập đầu xuống nền đường gây thương tích.
Cáo trạng số 1976/CT-VKSQY ngày 30 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố Trần Anh Tuấn N về tội: “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị: Căn cứ: điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Anh Tuấn N từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng, về tội: “Cố ý gây thương tích”.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Anh Tuấn N khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, thể hiện: N là cháu ngoại ông Trần Ngọc T2, khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15/12/2023 N đang tắm ở trong nhà bên cạnh quán Massage “Thái Thuỷ” của gia đình ông T2 ở khu A, phường Q, thị xã Q thì nghe thấy tiếng ông T2 gọi “cún ơi, nhanh lên có thằng đánh ông”. N đi ra ngoài đường trước cửa quán thấy ông T2 đang cãi nhau với anh D, anh T3, N đến chỗ hai người này hỏi “có việc gì không” thì ông T2 đẩy N vào trong nhà. N đứng ở cửa quán thấy ông T2 đẩy anh T3 và thấy anh D túm cổ áo đẩy ông T2 lùi ra sau, nghĩ anh D đánh ông T2 nên N đã xông đến dùng tay phải đấm 01 phát vào mặt anh D làm anh D ngã ngửa đập đầu xuống nền đường bất tỉnh. N tiếp tục xô xát tay chân với anh T3, ông T2 chạy vào trong nhà cầm 01 đoạn ống nhựa vụt 01 phát vào lưng anh T3. Sau đó ông T2 can ngăn N và anh T3 không đánh nhau nữa, anh D được mọi người đưa đi cấp cứu. Ngày 16/12/2023 N đã đến Công an đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình, quá trình giải quyết vụ án N đã bồi thường cho anh D 100.000.000 đồng.
Bị hại Lê Tố D, những người làm chứng anh Ngô Đức T3, ông Trần Ngọc T2 quá trình điều tra đều có lời khai thể hiện: khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15/12/2023 sau khi đi ăn uống, hát karaoke cùng một số người bạn, anh D, anh T3 đến quán M “T” để tẩm quất massage. Tại quán, ông T2 yêu cầu anh D mua tiền vé trước nhưng anh D không thanh toán tiền được, sau đó cả hai xảy ra to tiếng cãi nhau, ông T2 đẩy anh D ra ngoài đường không nhận massage tại quán nữa thì anh T3 cũng ra theo. Tại khu vực đường trước cửa quán cả ba tiếp tục to tiếng cãi nhau, do sợ bị anh D, anh T3 đánh nên ông T2 đã gọi Trần Anh Tuấn N là cháu ngoại ông T2 đang tắm ở trong nhà bên cạnh quán ra. N đi ra chỗ ông T2 và anh D, anh T3 đang cãi nhau thì ông T2 sợ xảy ra xô xát nên đẩy N vào trong nhà. Tại khu vực ngoài cửa quán ông T2 đẩy anh T3 ra thì thấy anh D dùng tay đẩy vào cổ ông T2 lùi lại phía sau. Sau đó anh D bị N dùng tay phải đấm 01 phát vào mặt làm anh D ngã ngửa đập đầu xuống nền đường bất tỉnh. N tiếp tục xô xát tay chân với anh T3, ông T2 chạy vào trong nhà cầm 01 đoạn ống nhựa vụt 01 phát vào lưng anh T3. Sau đó ông T2 can ngăn N không đánh anh T3 nữa, anh D được mọi người đưa đi cấp cứu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Anh Tuấn N thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Anh Tuấn N tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, xác nhận của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 09 phút ngày 15/12/2023 tại khu A, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn trong sinh hoạt, Trần Anh Tuấn N đã có hành vi dùng tay đấm 01 phát vào mặt anh Lê Tố D làm anh D ngã đập đầu xuống nền đường gây thương tích, tổn hại 35% sức khỏe. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy nhiên do xuất phát từ mâu thuẫn cãi nhau về việc ông T2 không nhận anh D, anh T3 massage tại quán và thấy anh D có hành vi đẩy ông T2, bị cáo nghĩ anh D đánh ông T2 là ông ngoại của mình nên đã dùng tay phải đấm 01 phát vào mặt anh D làm anh D ngã ngửa đập đầu xuống nền đường bất tỉnh, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và khẳng định việc truy tố đối với bị cáo là đúng người đúng tội, không oan, sai. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của anh Lê Tố D. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Anh Tuấn N đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về hình phạt:
- Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự cho xã hội và đã xâm phạm đến sức khỏe của anh Lê Tố D, vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại, được bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự; bị cáo có bố đẻ là ông Trần Anh T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương quân kỳ quyết thắng, Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất và Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba; bị cáo có mẹ đẻ là bà Trần Thị Vân A được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm. Tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và giáo dục của gia đình, cũng đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo đủ để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp với Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do bị cáo bị xử hình phạt tù nhưng được hưởng án treo nên căn cứ: điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” đối với bị cáo, do vậy hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh, đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo N đã bồi thường cho bị hại anh Lê Tố D tổng số tiền 100.000.000 đồng, anh D không có đề nghị gì thêm, nên không đề cập xử lý.
[5] Về các tình tiết khác trong vụ án: Đối với việc Trần Anh Tuấn N, ông Trần Ngọc T2 có hành vi xô sát tay chân, dùng đoạn ống nhựa đánh anh Ngô Đức T3, hậu quả anh T3 bị xây sát nhẹ, không có yêu cầu đề nghị gì, Cơ quan điều tra đã đề nghị Công an thị xã Q xử phạt hành chính đối với Trần Anh Tuấn N, ông Trần Ngọc T2 và xử lý đoạn ống nhựa đã thu giữ theo quy định, nên không đề cập xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7]Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ vào: điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo: Trần Anh Tuấn N phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Anh Tuấn N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Anh Tuấn N cho Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo Trần Anh Tuấn N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Căn cứ: điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự;
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 64/2024/LCCT-HSST, ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh, số: 86/QĐTHXC-TA, ngày 30 tháng 8 năm 2024, của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, đối với bị cáo Trần Anh Tuấn N, từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Trần Anh Tuấn N phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phúc Định |
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Anh Tuấn Ninh phạm tội: “Cố ý gây thương tích’’.
