|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2024/DS-PT
Ngày: 19 - 9 - 2024
V/v: Tranh chấp về đòi lại đất lấn chiếm.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Thẩm phán:
- 1. Bà Trần Thị Mỹ Hải
- 2. Bà Nguyễn Thị Hải Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan; Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2024/TLPT - DS ngày 11 tháng 7 năm 2024, về việc: Tranh chấp về đòi lại đất lấn chiếm.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐPT-DS ngày 22/8/2024 và quy ết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐPT-DS ngày 09/9/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: ông Hồ Xuân T, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1955. Cùng địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Ông T có mặt, bà P vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị P: Ông Hồ Xuân T, sinh năm 1950; địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- - Bị đơn: Ông Đậu Sỹ T1, sinh năm 1969 và bà Hồ Thị H, sinh năm 1974. Cùng địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đậu Sỹ T1: Ông Lê Công T2
- – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn Huy T3 – Chức danh: Chủ tịch UBND phường Q. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử, giải quyết vắng mặt).
- - Những người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Đình H1, sinh năm 1979; địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử, giải quyết vắng mặt).
- Ông Vũ Công L, sinh năm 1960; địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- * Người kháng cáo: ông Hồ Xuân T, sinh năm 1950; Địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Là: Nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hồ Xuân T và người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị P (ông Hồ Xuân T) khai:
Ông Hồ Xuân T và bà Nguyễn Thị P sử dụng thửa đất số 762 tờ bản đồ số 02 (bản đồ địa chính 299) từ năm 1977 với diện tích theo bản đồ là 600m², có nguồn gốc Hợp tác xã giao đất ở, đất vườn. Đến ngày 26 tháng 3 năm 1999, ông bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hồ Xuân T số N527461 cho thửa đất số 13 tờ bản đồ số 128-74 (theo bản đồ địa chính năm 1997) diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 540m². Diện tích theo bản đồ địa chính ghi nhận là 560m². Phía Bắc thửa đất số 13 tờ bản đồ số 128-74 thuộc quyền sử dụng của ông bà tiếp giáp với thửa đất số 12 thuộc quyền sử dụng của ông Đậu Sỹ T1 và bà Hồ Thị H. Ranh giới giữa hai nhà là đường thẳng nhưng không có bờ tường ngăn cách giữa hai nhà. Giữa thửa đất của hai nhà là lối đi chung do hai gia đình tự bỏ đất để làm lối đi chung từ giáp đường giao thông đến khoảng 2/3 thửa đất; khi làm lối đi chung mỗi nhà bỏ ra bao nhiêu đất thì ông T cũng không rõ. Trước đây ranh giới giữa hai thửa đất có một bờ đất và ông T có đóng một thanh thép làm điểm mốc nhưng thời gian đã lâu còn thanh thép hay không thì ông T không rõ.
Giữa hai gia đình trước đó chưa làm tường bao ngăn cách. Quá trình sử dụng ngõ đi chung không xảy ra mâu thuẫn gì.
Đến năm 2016, ông T bà P xây nhà cho con trên phần đất ngõ đi chung của hai gia đình được sự đồng ý của ông T1 và xây vào phần đất của lối đi chung 20 cm. Vì ngõ đi chung của hai gia đình rộng 1,25m. Sau khi xây nhà cho con xong, ông T và ông T1 nảy sinh tranh chấp và hai bên có được khối hòa giải và lập biên bản phân chia ngõ ngày 20/11/2016 chia đôi ngõ đi của hai nhà, mỗi nhà được 62cm. Ông T1 xây dựng tường bao như hiện trạng sau khi lập bản giấy thỏa thuận cam kết chia đôi ngõ chưa đúng vì ngõ chung rộng 1,25m, ông T xây nhà cho con lên phần đất ngõ là 20cm còn lại 42cm nhưng ông T1 đã xây tường bao và làm cổng lên phần đất này.
Nay ông T và bà P yêu cầu ông T1 và bà H trả lại phần đất lấn chiếm thuộc quyền sử dụng đất của ông T và bà P là 15.8m² có vị trí như kết quả trích đo của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã H và tháo dỡ các công trình đã xây dựng trên phần đất lấn chiếm này. Điểm mốc giới tiếp giáp với bờ sông H (hướng Tây của thửa đất) là điểm tiếp giáp giữa hai tấm bê tông do ông T và ông T1 dùng để lát qua mương nước của Hợp tác xã. Điểm mốc giới phía Đông của thửa đất tiếp giáp với đường giao thông cách bờ tường nhà của con trai ông T là 50cm.
Tại phiên tòa ông T yêu cầu do ông T1 và bà H đã xây dựng công trình lên phần đất lấn chiếm của ông bà và diện tích đất còn lại không sử dụng được vào mục đích gì. Ông T yêu cầu ông T1 và bà H trả lại quyền sử dụng đất cho ông T bà P, trường hợp không trả lại được bằng quyền sử dụng đất thì trả lại bằng tiền trị giá phần quyền sử dụng đất theo giá trị định giá 94.800.000 đồng và giao quyền sử dụng phần đất ông T1 và bà H đã lấn chiếm cho ông T1 và bà H sử dụng.
Tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn ông Đậu Sỹ T1 và bà Hồ Thị H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1, ông Lê Công T2 thống nhất khai:
Ông Đậu Sỹ T1 và bà Hồ Thị H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N527468 ngày 26 tháng 3 năm 1999 mang tên chủ sử dụng đất là Đậu Sỹ T1 đối với thửa đất số 12 tờ bản đồ số 128-74 diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 487m². Nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ ông T1 được Hợp tác xã cắt đất ở cho các hộ gia đình, giao lại cho ông T1 và bà H khi lập gia đình ra ở riêng.
Phía Nam thửa đất giáp ranh với thửa đất của ông T bà P. Ranh giới giữa hai nhà là lối đi chung của hai gia đình, rộng khoảng 2m dài từ đường giao thông đến công trình chăn nuôi của ông T1 và bà H. Ban đầu lối đi chỉ có phía nhà ông T1 và bà H khoảng 90cm. Sau đó ông T có góp đất đi để đi chung vào lối đi từ trước của ông bà. Phía sau không có lối đi chung. Phía sau cũng không có bờ tường ngăn cách giữa hai gia đình mà ông bà có xây một bờ đá để ngăn trâu bò xuống mương.
Năm 2016, ông T làm nhà cho con có xây nhà ra giữa lối đi của hai gia đình nên xảy ra tranh cãi với nhau. Sau đó khối hòa giải và hai gia đình chia đôi ngõ. Biên bản thỏa thuận ngày 20/11/2016 do ông T lập có chứng kiến của anh Nguyễn Đình H1 và anh Vũ Công L. Sau khi lập biên bản, ông T cùng ông L giăng dây, cắm mốc để ông T1 và bà H xây tường bao, làm cổng như hiện trạng hiện nay. Đối với việc ông T khai điểm mốc phía Tây của thửa đất là điểm tiếp giáp hai tấm bê tông bắc qua mương nước là không đúng vì tấm bê tông đó ông T1 bà H bắc qua mương để trâu bò đi qua, không phải căn cứ để làm mốc. Điểm mốc phía Đông của thửa đất do ông T tự xác định cách bờ tường nhà con ông T 50 cm cũng không đúng vì bờ tường ranh giới do ông bà xây dựng đã xây đúng mốc giới. Ông T1 bà H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T và bà P. Hiện trạng ranh giới hai thửa đất đã đúng với thỏa thuận năm 2016.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường Q trình bày:
Ủy ban nhân dân phường Q cung cấp thông tin về nguồn gốc ngõ đi chung của thửa đất số 13 và thửa đất số 12, tờ bản đồ số 128-74.
Theo đó nguồn gốc đất của gia đình ông T và gia đình ông T1 sử dụng đều có nguồn gốc do Hợp tác xã H3 giao đất sử dụng làm nhà ở từ năm 1977.
Về ngõ đi chung: Nguồn gốc khi giao đất đi theo đường chính của khối không có ngõ đi chung giữa hai hộ (bản đồ 299 năm 1983 thửa đất số 762 và 753, tờ bản đồ số 02 Hợp tác xã Y không thể hiện có ngõ đi chung) mà ngõ đi chung của hai gia đình ông T và ông T1 tự tạo lập từ đất được giao cho hai gia đình để đi vào khoảng năm 1986, 1987. Đến năm 1997 do trên thực địa có lối đi nên bản đồ đo đạc năm 1997 thể hiện có lối đi giữa hai thửa đất. Lối đi chung có nguồn gốc là đất của ông Hồ Xuân T bà Nguyễn Thị P và ông Đậu Sỹ T1 bà Hồ Thị H.
Tại Bản tự khai và tại phiên tòa người làm chứng ông Nguyễn Công L1 khai:
Ông Nguyễn Công L1 là khối trưởng khối Q năm 2016, ông không có quan hệ họ hàng gì với nguyên đơn và bị đơn. Vào năm 2016 giữa hai gia đình ông T1 và ông T có xảy ra tranh chấp lối đi chung. Lối đi chung của hai gia đình khoảng 2/3 thửa đất. Việc xảy ra tranh chấp do ông T làm nhà lên phần đất là lối đi chung của hai gia đình, ông T1 làm đơn lên phường để hòa giải. UBND phường Q giao cho khối hòa giải cho hai gia đình, sau khi hòa giải hai bên thống nhất chia đôi ngõ và cắm mốc, lập biên bản thỏa thuận. Lúc cắm mốc xác định điểm mốc giới phía trước giáp với đường giao thông của khối và phía sau giáp với mương nước của Hợp tác xã đều do ông T1 và ông T thỏa thuận thống nhất tự xác định. Sau đó giăng dây theo điểm mốc giới đã cắm. Sau khi cắm mốc ông T1 xây dựng tường bao theo đúng mốc giới đã cắm khi hòa giải.
Tại Bản tự khai người làm chứng ông Nguyễn Đình H1 khai: Năm 2016, ông Nguyễn Đình H1 là Bí thư Chi bộ, Trưởng ban công tác mặt trận khối Q, phường Q. Khi ông T xây nhà cho con phát sinh tranh chấp ngõ đi với ông Đậu Sỹ T1. Ủy ban nhân dân phường giao cho khối hòa giải cho hai ông. Sau khi hòa giải hai ông thống nhất lập biên bản thỏa thuận phân chia ranh giới. Sau khi lập biên bản xong ông T cùng ông T1 và ông L1, ông H1 cắm mốc từ trước ra sau, giăng dây phân chia ranh giới hai thửa đất. Việc xác định các điểm mốc giới do ông T, ông T1 thống nhất với nhau. Sau khi cắm mốc, giăng dây hai bên đã xây tường bao như hiện trạng sử dụng. Ông T1 đã xây tường bao đúng với khi cắm mốc.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ tài sản phần đất tranh chấp và định giá tài sản
- - Thửa đất số 12 tờ bản đồ số 128-74 (bản đồ địa chính năm 1997) thuộc quyền sử dụng của ông Hồ Xuân T và bà Nguyễn Thị Phương N tương ứng với thửa đất số 378 tờ bản đồ số 10 bản đồ địa chính số. Diện tích theo ranh giới hiện trạng sử dụng đất là 640,6m².
- - Thửa đất số 13 tờ bản đồ số 128-74 (bản đồ địa chính năm 1997) thuộc quyền sử dụng của ông Đậu Sỹ T1 và bà Hồ Thị H nay tương ứng với thửa đất số 374 tờ bản đồ số 10 bản đồ địa chính số. Diện tích theo ranh giới hiện trạng sử dụng đất là 592,7m².
Phần diện tích đất tranh chấp hiện đang thuộc một phần thửa đất số 12 tờ bản đồ số 128-74 có kích thước theo mốc giới ông Hồ Xuân T tự xác định như sau:
- - Phía Đông giáp đường giao thông có kích thước 0,54m tính từ bờ tường nhà của con ông T.
- - Phía Tây giáp mương nước có kích thước 0,28m tính từ mép ngoài bờ tường bao do ông T1 xây dựng.
- - Phía Nam là đường kéo dài thuộc một phần phần thửa đất số 12 tờ bản đồ số 128-74 từ điểm mốc giới do ông T xác định từ trước ra sau thửa đất có kích thước 37,31m.
- - Phía Bắc là mép ngoài bờ tường bao do ông Đậu Sỹ T1 xây dựng tiếp giáp với thửa đất số 13 của ông T có kích thước 25,78m+11,48m.
Diện tích phần đất tranh chấp là 15,8m² có giá 94.800.000 đồng
Tài sản trên đất là bờ tường xây bằng táp lô nối tiếp nhau do ông T1, bà H xây dựng gồm đoạn bờ tường cao 30cm, dài 11,8m có da trát trị giá 608.000 đồng, bờ tường cao 1,57m, dài 11,9m, đoạn bờ tường cao 60cm, dài 13,5m không da trát có giá 2.410.000 đồng. Một cột cổng kích thước 2m x 0,4m x 0,4m có giá 344.000 đồng.
Hiện trạng sử dụng đất, ranh giới giữa thửa đất số 13 và thửa đất số 12 tờ bản đồ số 128-74 là bờ tường bao do ông Đậu Sỹ T1 và bà Hồ Thị H xây dựng. Ngoài ranh giới là bờ tường bao không có các điểm mốc giới được xác định chung bởi ông T, bà P và ông T1, bà H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 170, 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai 2013.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, khoản 1 Điều 227, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Xuân T và bà Nguyễn Thị P về việc buộc bị đơn ông Đậu Sỹ T1 và bà Nguyễn Thị H2 phải trả lại quyền sử dụng đất là 15,8m².
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06 tháng 5 năm 2024 nguyên đơn ông Hồ Xuân T kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An với lý do: vì lâu ngày và bê tông hóa mốc bề mặt không có nữa, Tòa quyết không mốc không có chủ quyền. Tòa án chưa tra cứu Bản đồ 1997 xác định mốc trên bản đồ là vĩnh cửu, không gì thay thế được, dựa vào bản đồ 1997 làm thực tế để kết luận, buộc ông T1, bà H2 trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích là 15,8m².
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Hồ Xuân T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông. Bị đơn ông Đậu Sỹ T1 và bà Hồ Thị H đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An. Tại luận cứ gửi đến Toà án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Xuân T đòi ông Đậu Sỹ T1 và bà Hồ Thị H trả lại diện tích đất bị lấn chiếm là 15,8m².
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo: Kháng cáo của ông T đúng thời hạn và ông T là người cao tuổi, thuộc đối tượng được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý là đúng quy định. Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 08/2023/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồ Xuân T là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Hồ Xuân T; giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Hồ Xuân T.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 104/2024/DS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về đòi lại đất lấn chiếm
- Số bản án: 104/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi lại đất lấn chiếm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai giữa ông T và ông T1
