|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2024/HSST Ngày 19-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phùng Văn Thông
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung, Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Nhung, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 26 tháng 5 năm 1999; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1975; có vợ là Nguyễn Thị Hương G và 02 con: Con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/3/2024 đến ngày 24/3/2024 chuyển tạm giam đến nay (Có mặt).
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Q (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 18/3/2024, tại nhà nghỉ C2 thuộc thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác của Công an huyện V phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tang vật thu giữ gồm:
- T1 tại tay phải H đang cầm: 01 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt và đường kẻ chỉ màu xanh, bên trong chứa các hạt tinh thể, tang vật được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A1; 01 viên nén hình tam giác màu trắng đục và 01 viên nén màu đen. Tang vật được niêm phong trong 01 phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A2. H khai nhận đó là túi ma tuý K và 02 viên ma túy kẹo H mua hộ cho một người bạn tên là C, sinh năm 2004 ở xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, mục đích để H và C cùng sử dụng.
- T1 tại tay trái H đang cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo1916 màu xanh đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0373.999.294.
Căn cứ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của H, cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H tại thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ tài sản, đồ vật gì.
Ngày 19/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 478/QĐ-ĐCSKT-MT trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh V tiến hành giám định xác định mẫu vật ký hiệu A1, A2 gửi giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép ma túy không, loại chất ma túy, tiền chất gì? khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?.
Ngày 23/3/2024, Phòng K1 - Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 754/KLGĐ, xác định:
Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8183g (Không phảy tám một tám ba gam, không kể bao bì) loại Ketamine.
01 (một) viên nén màu trắng và 01 (một) viên nén màu đen của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,7592g (Không phảy bảy năm chín hai gam, không kể bao bì) loại MDMA.
Phòng K1 - Công an tỉnh V đã hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V gồm: A1 = 0,5136 gam và A2 = 0,3494 gam cùng bao gói được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K1 - Công an tỉnh V.
Ngày 23/3/2024, Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung kết luận giám định nêu trên cho Nguyễn Văn H. H đồng ý với nội dung kết luận giám định và không có ý kiến gì.
Về nguồn gốc ma túy Nguyễn Văn H khai nhận: Khoảng gần 20 giờ 00 phút ngày 18/3/2024, H đang uống rượu tại quán M2 cũ ở thôn T, xã L, huyện V thì nhận được điện thoại qua ứng dụng Messenger của Trần Văn C, sinh năm 2004 ở xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Qua điện thoại C hỏi H biết chỗ nào bán ma túy đá không, Hoàn trả L “Anh không biết, anh không chơi cái đấy”, C nói: “Thế anh có cái khác không”, H bảo: “Lấy ke kẹo, nếu lấy thì anh gọi hộ”, C đồng ý. Sau đó, H gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho Hạ Khắc T2 khoảng 30 tuổi nhà ở xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc qua điện thoại H hỏi: “Anh lấy hộ em một chỉ hai viên”, T2 trả lời: “Ok, để anh gọi”, một lúc sau T2 gọi lại nói: “Hết hai triệu hai, chuyển khoản hay tiền mặt”, H bảo: “Chuyển khoản”, sau đó T2 nhắn tin số tài khoản của T2 là 66883656789 mở tại Ngân hàng M3 cho H rồi H nhắn tin lại cho C số tài khoản đó và bảo C chuyển số tiền 2.200.000đ đến tài khoản của T2 để mua ma túy. Sau khi chuyển khoản xong, C gửi hình ảnh chuyển khoản đó cho H rồi H gửi lại cho T2. T2 và H thỏa thuận địa điểm giao nhận ma túy tại khu vực gần cửa hàng W thuộc địa phận thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Lúc này do điện thoại của H bị hết pin phải đi sạc điện thoại nhờ nên H đã mượn điện thoại của Lê Phương U (tên gọi khác là H1), sinh năm 2007 trú tại thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, tên facebook là “Huệ Bống” đang ngồi ở gần đó để gọi điện thoại đến số 02113878xxx của tổng đài taxi Ngọc L1 đặt 01 xe taxi đến sân mới (cách nhà văn hóa thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc khoảng 300m). Một lúc sau, anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1974 trú tại xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (là lái xe của hãng taxi N1) gọi điện thoại cho H vào số điện thoại của U để thống nhất điểm hẹn và đón H. Sau khi lên xe H bảo anh Q chở H đến gần cửa hàng W thuộc xã C. Khi đến nơi H bảo anh Q dừng xe rồi H xuống xe thì thấy 01 nam thanh niên H không quen biết đi xe máy đến bảo H đi vào trong 01 ngõ nhỏ giáp cửa hàng W và đến gốc cây gần đó để lấy ma túy đã được để sẵn trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long. H đi vào trong ngõ khoảng 20m thì thấy có 01 bao thuốc Thăng Long để dưới 01 gốc cây, H nhặt lên và thấy bên trong có 01 túi ma túy ketamine và 02 viên ma túy kẹo. H cầm số ma túy đó ở tay phải, vứt vỏ bao thuốc lá rồi H lên xe taxi bảo anh Q chở H đến nhà nghỉ C2 để gặp C. Khi đến trước cửa nhà nghỉ anh Q thông báo hết 165.000đ tiền taxi, H liên hệ bảo C chuyển khoản số tiền trên cho H đến số tài khoản 19071926398011 để H chuyển tiền sang cho anh Q. Sau khi thanh toán tiền xong H đi lên phòng 201 nhà nghỉ C2 là phòng mà C bảo đang ở trong đó. Khi H đi đến trước cửa phòng thì có lực lượng Công an đến kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.
Tại cơ quan điều tra, H khai nhận mục đích mua hộ ma tuý cho Trần Văn C là để cùng C sử dụng trái phép chất ma tuý.
Căn cứ lời khai của H, ngày 19/3/2024 Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo1916 màu xanh đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0373.999.294 thu giữ của Nguyễn Văn H. Qua kiểm tra tại mục cuộc gọi điện thoại, mục tin nhắn SMS, Zalo, Messenger không phát hiện nội dung trao đổi liên quan đến ma túy giữa H với C và T2. H khai nhận do lo sợ bị vợ phát hiện và sợ bị cơ quan Công an kiểm tra vì có liên quan đến ma túy nên H đã xóa hết toàn bộ nội dung liên hệ trao đổi liên quan đến việc mua ma túy ngày 18/3/2024 giữa H với C và T2 trước đó.
Tại Cáo trạng số 98/CT – VKSVT ngày 20 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt Nguyễn Văn H từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát không đề nghị hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị về xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng là anh Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình làm việc tại cơ quan điều tra đã trình bày về việc Cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như bị cáo H trình bày là đúng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà và trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 18/3/2024, tại nhà nghỉ C2 thuộc thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác của Công an huyện V phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,8183g ma túy Ketamine và 0,7592g ma tuý MDMA, mục đích để H sử dụng cùng đối tượng tên C (theo lời khai của H). Vật chứng thu giữ: T1 tại tay phải H đang cầm: 01 túi nilon không màu, miệng túi có mép vuốt và đường kẻ chỉ màu xanh, bên trong chứa 0,8183g ma túy Ketamine; 02 viên ma túy MDMA có khối lượng 0,7592g; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo1916 màu xanh đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0373.999.
[3]. Hành vi của Nguyễn Văn H tàng trữ 02 chất ma túy khác nhau mục đích để sử dụng cho bản thân, căn cứ theo khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, được tính như sau: Ma túy loại ketamine mà H tàng trữ có khối lượng 0,8183g thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; ma túy loại MDMA Hoàn tàng trữ có khối lượng 0,7592g thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tỷ lệ % về khối lượng ketamine mà H tàng trữ so với mức tối thiểu quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là (0,8183g/20g x 100%) = 4,0915%; Tỷ lệ % về khối lượng MDMA mà H tàng trữ so với mức tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là (0,7592g/5g x 100%) = 15,184%. Tổng tỷ lệ phần trăm của 02 loại ma túy là: 4,0915%+ 15,184%= 19,2755% thuộc trường hợp dưới 100% nên tổng khối lượng chất ma túy MDMA và Ketamine Hoàn tàng trữ thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này."
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong nhân dân.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ông nội là ông Nguyễn Văn C1 được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định có thể phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nhất định nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và đang bị tạm giam nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo1916 màu xanh đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0373.999.294 tạm giữ của H. Quá trình điều tra xác định điện thoại và sim thuê bao nêu trên là tài sản hợp pháp của H. Ngày 18/3/2024, H đã sử dụng chiếc điện thoại và sim thuê bao trên để liên hệ mua ma túy. Do vậy, cần tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước đối với chiếc điện thoại di động và tiêu hủy đối với sim thuê bao.
Đối với mẫu vật còn lại sau giám định gồm: mẫu tinh thể dạng đá = 0,5136g và mẫu viên nén = 0,3494g cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K1 - Công an tỉnh V không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông mua hộ ma túy cho H vào ngày 18/3/2024, theo H khai nhận tên là T2, sinh năm 1995, trú tại xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra xác định được là Hạ Khắc T2, sinh năm 1995 tại thôn T, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan điều tra đã cho H nhận dạng đối với Hạ Khắc T2 qua ảnh cá nhân được dán tại góc bên phải lý lịch cá nhân của Hạ Khắc T2.
Kết quả, H khẳng định người trong ảnh nêu trên là người đã mua hộ ma túy cho H vào ngày 18/3/2024. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập T2 nhiều lần nhưng vẫn chưa triệu tập, làm việc được. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ có hay không có hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Hạ Khắc T2 để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người nhờ H mua hộ ma túy theo khai nhận của H là Trần Văn C, sinh năm 2004 trú tại xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 18/3/2024 C nhờ H mua hộ ma túy sau đó mang đến phòng 201 nhà nghỉ C2 để C và H cùng nhau sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác minh tại xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc có đối tượng Trần Văn C, sinh năm 2004, cơ quan điều tra đã cho H nhận diện đối với C qua ảnh được dán tại góc bên phải lý lịch cá nhân của Trần Văn C. Kết quả, H khẳng định người trong ảnh nêu trên là người đã nhờ H mua hộ ma túy ngày 18/3/2024. Ngay sau khi bắt giữ H, cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra phòng 201 nhà nghỉ C2, đồng thời làm việc với lễ tân của nhà nghỉ là anh Triệu Tòn N. Quá trình làm việc anh N trình bày: Vào buổi tối ngày 18/3/2024 không có ai tên Trần Văn C, sinh năm 2004 trú tại xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đến thuê phòng nghỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập nhiều lần đối với C. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa triệu tập, làm việc được. Do vậy, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với anh Nguyễn Văn Q: Anh Q là người lái taxi chở H đi lấy ma túy và chở H đến nhà nghỉ C2 vào ngày 18/3/2024. Quá trình điều tra xác định anh Q không biết, không liên quan gì đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của H. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Q là có căn cứ.
Đối với Lê Phương U, sinh ngày 13/3/2007 trú tại thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là người đã cho H mượn điện thoại và sim thuê bao 0357713962 để gọi taxi chở H đi mua ma túy vào ngày 18/3/2024. Quá trình điều tra xác định U không biết, không liên quan gì đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của H. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với U là có căn cứ.
Đối với người đàn ông đưa H đến vị trí để ma túy ngày 18/3/2024 tại khu vực gần chợ K2 thuộc thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, theo khai nhận của H người đàn ông này có đặc điểm khoảng hơn 20 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1,7m, tóc đen, đội mũ nón mặc áo cộc màu đen, quần bò, đi xe wave. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành triệt để các biện pháp điều tra đến nay vẫn chưa xác định được người này là ai, ở đâu. Do vậy, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với tài khoản ngân hàng số 10086763937, ngày 18/3/2024 H đã nhận được số tiền 165.000đ từ số tài khoản này chuyển đến tài khoản của H để trả tiền taxi. Quá trình điều tra xác định số tài khoản trên là của anh Phùng Văn M1,
sinh năm 1987 trú tại xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc mở tại Ngân hàng TMCP C3. Cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng hiện anh M1 không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Do vậy cần tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với tài khoản số 0009983474071 đã chuyển vào số tài khoản 66883656789 của Hạ Khắc T2 số tiền 2.200.000đ ngày 18/3/2024. Quá trình điều tra xác định tài khoản trên là của anh Phùng Văn B, sinh năm 1996 trú tại xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, mở tại Ngân hàng TMCP N2. Cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng hiện anh B không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Do vậy cần tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với tài khoản ngân hàng số 19071926398011 đứng tên Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 2000 trú tại thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra xác định chị G là vợ của Nguyễn Văn H, số tài khoản trên được chị G đăng ký với ngân hàng T3 vào năm 2023. Tuy nhiên, sau đó do chị G đã có số tài khoản khác nên chị giao cho H quản lý và sử dụng đối với số tài khoản này. Ngày 18/3/2024 H sử dụng tài khoản nêu trên để thực hiện các giao dịch chuyển khoản như thế nào chị G không biết và không liên quan gì đến hành vi vi phạm pháp luật của H nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị G là có căn cứ.
Đối với số tiền 100.000đ mà Hạ Khắc T2 đã chuyển khoản từ số tài khoản 66883656789 của T2 mở tại ngân hàng M3 vào số tài khoản 19071926398011 đứng tên Nguyễn Thị Hương G (vợ H) cho H. Quá trình điều tra H khai nhận sau khi lấy được ma túy xong thì H đã hỏi xin T2 100.000đ để lấy tiền đi taxi. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa triệu tập làm việc được với T2 nên chưa có cơ sở xác định lời trình bày của H là có căn cứ hay không. Do vậy cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 18/3/2024).
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Toà án.
- Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo1916 màu xanh đen bị vỡ góc bên phải màn hình, đã cũ.
- Tịch thu tiêu hủy 01 sim thuê bao 0373.999.294.
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định gồm: A1 tinh thể dạng đá = 0,5136g và A2 viên nén = 0,3494g cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K1 - Công an tỉnh V.
(Toàn bộ vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường ngày 21/8/2024).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Lương Văn Tuấn |
Bản án số 104/2024/HSST ngày 19/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 104/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
