Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 104/2024/HSST

Ngày: 04/9/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi

+ Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh
  2. Bà Trần Thị Hồng Phi

+ Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp -Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

+ Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hải Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 627/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu M

(Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1983; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi ĐKTT: 107/16, KV. T, P. T, Q. B, TP .; Chỗ ở hiện nay: 107/16, KV. T, P. T, quận B, TP .; Quê quán: Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1951; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1951; Anh chị em ruột: có 05 người, lớn nhất sinh năm: 1968; nhỏ nhất sinh năm: 1985; Vợ: Trần Thị P, sinh năm 1990; Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hữu L sinh năm: 1979 - có mặt.

Địa chỉ: số H khu V, P. B, Q. B, TP ..

  1. Ông Nguyễn Văn T sinh năm: 1952 - vắng mặt

Địa chỉ: 3 N, P. H, Q. N, TP ..

  1. Ông Lê Hoàng N sinh năm: 1985- vắng mặt

Địa chỉ: 7 đường C, P. H, Q. N, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào cuối năm 2021 thông qua mạng xã hội Facebook, ông Phạm Hoàng T1 (mua bán xe mô tô cũ) đã mua 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda loại SH 150i, màu đỏ-đen, biển số 64D1-243.65 từ một đối tượng nam với giá 18.000.000 đồng (làm giấy mua bán tay, xe bị mất giấy tờ); sau đó ông T1 nhờ ông Nguyễn Chí D rao bán lại xe trên để thu lợi. Đến khoảng tháng 5/2022, qua giới thiệu của bị cáo Nguyễn Hữu M, ông D đã bán xe mô tô này cho ông Ngô Minh P1 với giá 30.000.000 đồng, bị cáo M nhận rút hồ sơ và chuyển quyền sở hữu xe mô tô hiệu Honda loại SH 150i, màu đỏ-đen, biển số 64D1-243.65 sang cho ông P1 với giá 5.000.000 đồng. Do chờ lâu không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký xe, tháng 11/2022, ông P1 đã yêu cầu bị cáo M nhận lại xe SH 150i, màu đỏ-đen, biển số 64D1-243.65 và hoàn trả cho ông P1 43.000.000 đồng (tiền sơn, sửa lại xe 13.000.000 đồng).

Do không có tiền trả cho ông P1 nên bị cáo M nảy sinh ý định tìm người làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô SH 150i màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65 rồi mang đi cầm xe này để lấy tiền trả cho ông P1. Thực hiện ý định trên, bị cáo M truy cập mạng xã hội Facebook, liên hệ “Dịch vụ làm bằng cấp và các giấy tờ giả toàn quốc” rồi cung cấp nhãn hiệu xe, biển số xe, số khung, số máy để đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận xe của xe mô tô Honda SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65 với giá 2.000.000 đồng. Sau đó bị cáo M nhận được 01 Giấy chứng nhận xe của xe mô tô Honda SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65 với tên chủ xe là Lê Hoàng N rồi mang xe mô tô Honda SH 150i, biển số 64D1-243.65 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả này đến cầm cho ông Nguyễn Văn T – Chủ tiệm cầm đồ Phong Đ, địa chỉ: Số C N, P. H, Q. N, TP . với số tiền 40.000.000 đồng để trả cho ông P1. Đến ngày 28/6/2023, sau khi được ông T đồng ý cho trả trước 15.000.000 đồng (nợ lại 25.000.000 đồng) để chuộc lại xe mô tô Honda SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65, bị cáo M đã nhờ anh ruột là ông Nguyễn Hữu L đến gặp ông T trả số tiền 15.000.000 đồng, chuộc lại xe và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả.

Khoảng 11 giờ ngày 11/7/2023 ông Nguyễn Hữu L điều khiển xe mô tô Honda SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65 lưu thông trên đường N, quận N, TP . thì bị người dân phát hiện trình báo Công an, phường A mời ông L về làm việc, thu giữ:

  • 01 xe mô tô Honda SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65;
  • 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và 01 Giấy Chứng minh nhân dân phô tô (bản photo) tên Lê Hoàng N.

Tại Kết luận giám định số: 137/KL-KTHS-TL ngày 31/10/2023 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 024724 mang tên Lê Hoàng N, biển số 64D1-243.65, đề ngày 07/07/2015 là Giấy chứng nhận đăng ký xe giả (bút lục: 123).

Ông Lê Hoàng N – chủ sở hữu xe mô tô hiệu Honda SH 150i, màu đỏ - đen, biển số: 64D1-243.65 khai xe này bị mất trộm vào ngày 13/6/2021 tại quán cà phê “Vợt” địa chỉ: Số E T, P. C, Q. N, TP ., ông N đã trình báo cho Cơ quan điều tra; Giấy chứng nhận đăng ký xe này ông N vẫn còn giữ. Cơ quan CSĐT - Công an quận N đã ra Quyết định khởi tố vụ án “Trộm cắp tài sản” để tiến hành điều tra làm rõ. Quá trình điều tra do chưa xác định được bị can nên Cơ quan CSĐT - Công an quận N đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án.

Đối với đối tượng nhận làm giả Giấy chứng nhận xe theo yêu cầu của bị cáo M, do bị cáo liên hệ qua mạng xã hội Facebook, không biết rõ họ, tên nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý khi đủ căn cứ.

Đối với ông Nguyễn Văn T nhận cầm cố xe mô tô hiệu SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65 từ bị cáo M và ông Nguyễn Hữu L – đi chuộc lại xe – cho bị cáo; cả ông T và ông L điều không biết Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô hiệu SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65 do bị cáo đưa là giả. Do vậy, chưa đủ cơ sở để xử lý ông T và ông L về hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan tổ chức.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô Honda SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65 cho ông Lê Hoàng N.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hữu M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Tại bản Cáo trạng số: 116/CT - VKSNK ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố Nguyễn Hữu M về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo ăn năn, hối cải thành khẩn khai báo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được ở ngoài để có cơ hội cải tạo, lo cho cha mẹ già bị bệnh và lo cho con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Hiện nay, bị cáo còn nợ ông T số tiền 25.000.000 đồng chưa trả, bị cáo đồng ý trả cho ông T.

- Ông Nguyễn Hữu L trình bày: Ông không biết giấy xe bị cáo M đưa cho ông là giấy xe giả, do bị cáo M bệnh nên nhờ ông chuộc xe đã cầm cố cho ông T lại dùm. Ông chuộc số tiền 15.000.000 đồng, còn nợ lại ông T số tiền 25.000.000 đồng. Ông xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được ở ngoài để có cơ hội sửa sai lo cho gia đình con nhỏ và cha mẹ già bị bệnh.

- Ông Nguyễn Văn T, ông Lê Hoàng N vắng mặt, không có ý kiến gì thêm.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều phát biểu quan điểm: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu M thừa nhận hành vi “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức” là phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo M về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự, là lao động chính trong gia đình, có cha mẹ già, con nhỏ. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Về tình tiết tăng nặng: Không. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo với số tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 024724 mang tên Lê Hoàng N, biển số 64D1-243.65, đề ngày 07/07/2015 đã làm rõ là Giấy chứng nhận đăng ký xe giả, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu lưu hồ sơ.
  • + Đối với 01 (một) bản phô tô giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Hoàng N hiện không có giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu lưu hồ sơ.
  • + Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô Honda SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65 cho ông Lê Hoàng N nên ghi nhận.

-Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 25.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Điều này cho thấy: Bị cáo Nguyễn Hữu M đã cung cấp các thông số của xe mô tô SH 150i, biển số 64D1-234.65 để đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô SH 150i, biển số 64D1-234.65 tên chủ xe Lê Hoàng N. Sau khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký xe giả đã đặt, bị cáo sử dụng Giấy này cùng xe mô tô SH 150i, biển số 64D1-234.65 mang đi cầm cố cho ông Nguyễn Văn T tại địa chỉ số C N, phường H, Q. N, TP ., sau đó nhờ anh ruột là Nguyễn Hữu L đến chuộc lại xe rồi giao xe mô tô cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe giả cho anh L sử dụng thì bị phát hiện.

Tại Kết luận giám định số: 137/KL-KTHS-TL ngày 31/10/2023 của Phòng K - Công an thành phố C kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 024724 mang tên Lê Hoàng N, biển số 64D1-243.65, đề ngày 07/07/2015 là Giấy chứng nhận đăng ký xe giả.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Nguyễn Hữu M đã đủ yếu tố cấu thành tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo với lỗi cố ý và là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước về con dấu, tài liệu. Vì vậy, cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự, là lao động chính trong gia đình, lo cho cha mẹ già bị bệnh và con nhỏ.

[3] Về tính tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà bị cáo được hưởng.

[4] Về tình tiết tăng nặng: không.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy hình thức phạt tiền đối với bị cáo vẫn có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: không.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 024724 mang tên Lê Hoàng N, biển số 64D1-243.65, đề ngày 07/07/2015 đã làm rõ là Giấy chứng nhận đăng ký xe giả nên tịch thu lưu hồ sơ.
  • + Đối với 01 (một) bản phô tô giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Hoàng N hiện không có giá trị sử dụng nên tịch thu lưu hồ sơ.

+ Đối với xe mô tô Honda SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Lê Hoàng N nên ghi nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo M trả số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên ghi nhận.

Do đó, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo M về tội danh, điều luật, mức hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ và phù hợp.

Đối với đối tượng nhận làm giả Giấy chứng nhận xe theo yêu cầu của bị cáo M, do bị cáo liên hệ qua mạng xã hội Facebook, không biết rõ họ, tên nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý khi đủ căn cứ.

Đối với ông Nguyễn Văn T nhận cầm cố xe mô tô hiệu SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65 từ bị cáo M và ông Nguyễn Hữu L – đi chuộc lại xe – cho bị cáo; cả ông T và ông L điều không biết Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô hiệu SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65 do bị cáo đưa là giả. Do vậy, chưa đủ cơ sở để xử lý ông T và ông L về hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan tổ chức.

Đối với đối tượng trộm xe của ông Lê Hoàng N, Cơ quan CSĐT - Công an quận N đã ra Quyết định khởi tố vụ án “Trộm cắp tài sản” để tiến hành điều tra làm rõ. Quá trình điều tra do chưa xác định được bị can nên Cơ quan CSĐT - Công an quận N đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu M phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu M số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

  1. Về xử lý vật chứng: Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu lưu hồ sơ:

  • + 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 024724 mang tên Lê Hoàng N, biển số 64D1-243.65, đề ngày 07/07/2015.
  • + 01 (một) bản phô tô giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Hoàng N.

Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Lê Hoàng N xe mô tô Honda SH 150i, màu đỏ - đen, biển số 64D1-243.65.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo M có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hữu M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  1. Về kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

* Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q. Ninh Kiều;
  • - Công an Q. Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS Q. Ninh Kiều;
  • - Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ;
  • - Lưu hồ sơ.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Yến Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HSST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 104/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu M số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger