Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

TP.HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

*******

Bản án số 104/2024/HSST

Ngày: 17/05/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đào Văn Hoan
  2. Ông Đặng Như Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa:

Ông Trương Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 16/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 03/05/2024 đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Thị H, sinh năm 1972; HKTT: Tổ 2, C, Thành phố S, Tỉnh Sơn La; chỗ ở hiện nay: Số F ngách C ngõ E T, T, H, Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết); có chồng là Lê Hồng T và 03 con (01 con đã chết)
  2. Nhân thân:

    Ngày 15/01/1998, Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 10 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2004, được miễn phần phạt tiền, án phí.

    D chỉ bản số 30 lập ngày 05/01/2024 tại Công an quận T. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

  3. Lê Hồng T, sinh năm 1967; HKTT: Tổ 2, C, Thành phố S, Tỉnh Sơn La; chỗ ở hiện nay: Số F ngách C ngõ E T, T, H, Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân B1 (đã chết) và bà Trần Thị P1; có vợ là Đỗ Thị H và 03 con (01 con đã chết).
  4. Nhân thân:

    - Ngày 24/4/1996, Toà án nhân dân thị xã Sơn La xử phạt 24 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 14/6/1996, Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phúc thẩm, xử phạt Lê Hồng T 18 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/4/1997, được miễn phần phạt tiền, án phí.

    - Ngày 31/3/1998, Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 10 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2005, được miễn phần phạt tiền, án phí.

    D chỉ bản số 31 lập ngày 05/01/2024 tại Công an quận T. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, tổ công tác Công an phường T làm nhiệm vụ trên tuyến đường N, T, Hà Nội, khi đi đến trước Đ - 332 N thì phát hiện bên trong nhà có Lê Hồng T, Đỗ Thị H và Trịnh Thái H1 (SN: 1963; HKTT: P6 gác 3 F5, Tập thể nhà máy T2, T, Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Trịnh Thái H1 đang cầm 01 tờ tích kê có ghi chữ số do Đỗ Thị H đưa cho. Tại chỗ, H1 khai nhận có đến số C N, T, Hà Nội để mua số đề của H và T với giá 100.000 đồng và được H ghi số đề “61” vào tờ tích kê rồi đưa cho H1. Sau đó, cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản quả tang và thu giữ toàn bộ đồ vật, tài sản rồi đưa các đối tượng về trụ sở Công an phường T

* Tang vật thu giữ:

  • 01 tờ tích kê, trên mặt giấy có ghi nội dung 61=100 (của Trịnh Thái H1);
  • 01 điện thoại di động OPPO A54 màu đen số IMEI 1: 862366052271816, số IMEI 2: 862366052271808 đã qua sử dụng; số tiền 12.100.000 đồng (của Đỗ Thị H);
  • 01 dấu tên có ghi chữ “Đại lý HN 18” màu đỏ; 01 dấu tên có khắc các chữ số màu xanh;
  • 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đỏ, có số IMEI: 353011098674252, lắp sim số 0944522277, số S: 89840200011153117658 đã qua sử dụng của Lê Hồng T.

Đỗ Thị H và Lê Hồng T khai nhận đang làm dịch vụ bán xổ số cho Công ty X và Công ty X1 từ năm 2019 cho đến nay nhưng không ký kết hợp đồng. H và T thuê nhà tại địa chỉ số C N, phường T, quận T, Hà Nội của bà Hoàng Tố M (SN: 1959, HKTT: P1F6 tầng 1 tập thể thuốc lá T, Thanh Xuân T, T, Hà Nội) để làm nơi bán xổ số và bán số lô đề. Do ít người mua xổ số, không có tiền chi tiêu cá nhân nên H cùng T đã nảy sinh ý định đánh bạc dưới hình thức bán số lô đề tại đây kể từ ngày 21/12/2023. Khi có khách hỏi mua, H hoặc T sẽ ghi số đề, lô xiên vào 01 tờ tích kê bằng giấy có kích thước 10x7cm, sao in bằng tờ giấy than thành 02 bản, H hoặc T ký xác nhận ở dưới rồi đưa cho khách 01 tờ tích kê làm căn cứ đổi thưởng. Sau đó, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu đỏ của mình, chụp lại các tích kê đã ghi để lưu lại, tổng hợp vào cuối ngày rồi xé bỏ các tích kê nêu trên. Khoảng 18 giờ ngày 21/12/2023, Trịnh Thái H1 đang mua số đề “61” cược 100.000 đồng từ vợ chồng H, T thì bị Công an phường T phát hiện, bắt quả tang.

Về cách thức đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề được dựa vào kết quả của Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày vào lúc 18 giờ 15 phút và kết thúc mở thưởng vào khoảng 18 giờ 30 phút, gồm 1 giải đặc biệt và 26 giải còn lại. Đối với số đề thường, khi khách mua được bộ số có 02 chữ số trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt, khách sẽ được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đặt cược. Đối với số đề 3 càng, khi khách mua được bộ số có 03 chữ số trùng với 3 số cuối của giải đặc biệt thì sẽ được hưởng số tiền gấp 420 lần số tiền đặt cược. Đối với lô xiên 2, xiên 3 và xiên 4, khi khách mua được bộ 02 số, 03 số và 04 số có 02 chữ số đều trùng với 2 số cuối của bất kỳ giải nào trong kết quả quay thưởng thì khách trúng sẽ được hưởng số tiền tương ứng gấp 10 lần, 45 lần và 110 lần số tiền đã đặt cược.

Trong ngày 21/12/2023, H và T bán được cho Trịnh Thái H1 100.000 đồng tiền số đề và khoảng 06 khách qua đường không rõ nhân thân lai lịch 17.255.000 đồng tiền các số lô đề được ghi tại 13 ảnh chụp trong máy điện thoại của T cụ thể như sau:

  • Trên ảnh chụp số 01 có 04 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 3.544.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 02 có 04 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 496.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 03 có 04 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 1.508.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 04 có 03 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 517.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 05 có 04 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 1.275.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 06 có 4 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 2.194.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 07 có 4 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 151.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 08 có 01 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 510.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 09 có 01 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 400.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 10 có 01 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 500.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 11 có 04 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 1.480.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 12 có 04 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 3.806.000 đồng.
  • Trên ảnh chụp số 13 có 02 tích kê ghi nhận tổng số tiền khách đánh bạc là 874.000 đồng.

Tổng số tiền vợ chồng H, T đánh bạc trong ngày 21/12/2023 là 17.355.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSTX ngày 22/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Đỗ Thị Hương và Lê Hồng Thanh về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Thị H từ 08 đến 12 tháng tù về tội Đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Hồng T từ 09 đến 12 tháng tù về tội Đánh bạc.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu huỷ: 01 tờ tích kê, trên mặt giấy có ghi nội dung 61=100; 01 dấu tên có ghi chữ “Đại lý HN 18” màu đỏ; 01 dấu tên có khắc các chữ số màu xanh
    • Trả lại bị cáo H chiếc điện thoại di động OPPO A54 màu đen đã thu giữ của bị cáo H.
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đỏ đã thu giữ của bị cáo T.
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 12.100.000 đồng đã thu giữ của Đỗ Thị H. Ngoài ra cần buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền 5.255.000 đồng đã hưởng lợi từ việc đánh bạc để sung ngân sách nhà nước.

Cả hai bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo H và bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của hai bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Trong ngày 21/12/2023, tại số C N, phường T, quận T, Hà Nội, Đỗ Thị H và Lê Hồng T đã cùng thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề mang tính chất được thua bằng tiền cho Trịnh Thái H1 và khoảng 06 người khác với tổng số tiền là 17.355.000 đồng.

Hành vi của T và H đã phạm tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự cộng đồng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Cờ bạc là một tệ nạn của xã hội, làm ảnh hưởng đến kinh tế, huỷ hoại nhân cách con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải có mức hình phạt phù hợp, tương xứng để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành và có vai trò ngang nhau.

[3] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo là vợ chồng của nhau; có con mới chết tháng 4/2024; hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang ở nhà thuê; bị cáo H đang bị bệnh phải điều trị. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tuy có 01 tiền án năm 1998 nhưng đã được xoá án tích từ lâu nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, chăm sóc gia đình, tu dưỡng bản thân để phát triển thành người có ích, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Các bị cáo đều không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 tờ tích kê, trên mặt giấy có ghi nội dung 61=100; 01 dấu tên có ghi chữ “Đại lý HN 18” màu đỏ; 01 dấu tên có khắc các chữ số màu xanh là những đồ vật phục vụ cho việc đánh bạc, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ

Đối với chiếc điện thoại di động OPPO A54 màu đen đã thu giữ của bị cáo H không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo H.

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đỏ đã thu giữ của bị cáo T, bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội (chụp lại các tích kê) nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 12.100.000 đồng đã thu giữ của bị cáo H được xác định là tiền mà các bị cáo đánh bạc mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Ngoài ra cần buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền 5.255.000 đồng đã hưởng lợi từ việc đánh bạc để sung ngân sách nhà nước.

[6] Đối với những khách mua số lô, đề trong ngày 21/12/2023, Trịnh Thái H1 đánh bạc dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, ngày 22/02/2023 Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mua các số lô đề” quy định tại khoản 1 Điều 28, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Các khách còn lại là khách vãng lai, H và T không cung cấp được nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

Đối với bà Hoàng Tố M là chủ nhà tại địa chỉ số C N, phường T, quận T, Hà Nội, bà M không biết và không liên quan tới hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, đề của H và T nên Cơ quan điều tra không xử lý.

[7] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Thị H.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Hồng T.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị H, Lê Hồng T phạm tội “Đánh bạc”
  2. Xử phạt Đỗ Thị H 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  3. Giao bị cáo H cho UBND phường T, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Xử phạt Lê Hồng T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  5. Xử lý vật chứng:
    • Tịch thu tiêu huỷ: 01 tờ tích kê, trên mặt giấy có ghi nội dung 61=100 (của Trịnh Thái H1); 01 dấu tên có ghi chữ “Đại lý HN 18” màu đỏ; 01 dấu tên có khắc các chữ số màu xanh.
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đỏ, có số IMEI: 353011098674252, lắp sim số 0944522277, số S: 89840200011153117658 đã qua sử dụng của Lê Hồng T.
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 12.100.000 (mười hai triệu, một trăm nghìn) đồng.
    • Trả lại bị cáo Đỗ Thị H 01 điện thoại di động OPPO A54 màu đen số IMEI 1: 862366052271816, số IMEI 2: 862366052271808 đã qua sử dụng (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân và Uỷ nhiệm chi ngày 19/4/2024 của Công an quận T).
  6. Buộc các bị cáo phải liên đới nộp lại số tiền hưởng lợi bất chính 5.255.000 (năm triệu, hai trăm năm mươi lăm nghìn) đồng để sung ngân sách nhà nước. Phần của mỗi bị cáo là 2.627.500 (hai triệu, sáu trăm hai mươi bảy nghìn, năm trăm) đồng.
  7. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - TAND TP Hà Nội.;
  • - VKSND TP Hà nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - Công an quận Thanh Xuân;
  • - THADS quận Thanh Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

BỘ CÔNG AN – VIỆN KIỂM SÁT

NHÂN DÂN TỐI CAO – TÒA ÁN

NHÂN DÂN TỐI CAO – BỘ TƯ

PHÁP

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

*******

SỐ: 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TAN[

Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2015

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỂM CỦA THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

SỐ 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTPCAO, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI CHƯƠNG XVIII “CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY” CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

Căn cứ Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Căn cứ Nghị quyết số 96/2015/QH13 ngày 26/6/2015 của Quốc hội khóa XIII về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự,

Bộ trưởng Bộ C1, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTPBộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 (sau đây viết gọn là Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT),

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT

1. Sửa đổi, bổ sung điểm a tiết 1.1 mục 1 Phần I như sau:

“a) Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng thì không coi toàn bộ dung dịch hoặc dung dịch pha loãng này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng chất ma túy trong dung dịch để tính, trọng lượng chất ma túy đó.

Ví dụ: Thuốc phiện, hêrôin được hòa thành dung dịch thì không coi toàn bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lượng của thuốc phiện hoặc xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của hêrôin để tính trọng lượng hêrôin".

2. Sửa đổi, bổ sung tiết 1.4 mục 1 Phần I như sau:

“1.4. Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng đẻ xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau:

  • C ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;
  • C ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;
  • Xái thuốc phiện;
  • T1 gây nghiện, thuốc hướng thần;

Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tiết 1.4 Mục này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật.

Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy.

Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi... thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật Hình sự, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này.

Trường hợp không thu giữ được vật chứng là chất ma túy, tiền chất nhưng có căn cứ xác định được trọng lượng chất ma túy, tiền chất mà người phạm tội đã mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh và điều khoản tương ứng.”"

Điều 2. Quy định chuyển tiếp

1. Đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, nếu các hướng dẫn trong Thông tư liên tịch này làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự so với các hướng dẫn trong Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT thì được áp dụng khi điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

2. Đối với các trường hợp mà người phạm tội đã bị kết án đúng theo Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì không áp dụng hướng dẫn của Thông tư liên tịch này để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.

Điều 3. Hiệu lực thi hành

Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30 tháng 12 năm 2015. Bãi bỏ các hướng dẫn tại điểm đ tiết 3.7 mục 3 Phần II; điểm b tiết 7.3 mục 7 Phần II; mục 8 Phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT.

Điều 4. Trách nhiệm thi hành

1. Các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện hướng dẫn tại Thông tư liên tịch này.

2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch nếu có khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị liên quan phản ánh về Bộ C1, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp để có hướng dẫn kịp thời.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 104/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị Hương, Lê Hồng Thanh phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger