TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19-8-2024.
V/v “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tơ
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Võ Văn Hiện
- - Bà Bùi Thị Duyên
Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tuấn Khanh–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú - tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 83/2024/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Trương Văn U, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Đ. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Chị Võ Thị Thúy H, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp H, xã A, huyện T, tỉnh B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn Trương Văn U trình bày:
Anh U và chị H kết hôn và sống chung như vợ chồng vào khoảng năm 2007, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Đ, hôn nhân tự nguyện. Anh U và chị H có 01 con chung tên Trương Thị C, sinh ngày 05/10/2007. Hiện tại con chung đang sinh sống với chị H và nhà ngoại.
Nguyên nhân yêu cầu ly hôn: Thời gian đầu anh U và chị H chung sống hạnh phúc, thời gian sau không hiểu lý do gì mà chị H bỏ nhà ra đi từ năm 2008, anh U và chị H đã không còn sống chung khoảng từ năm 2008 đến nay.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh U có các yêu cầu sau:
- - Về hôn nhân: Anh U yêu cầu được ly hôn với chị Võ Thị Thúy H. Không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn.
- - Về con chung: Trong đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2024 anh U có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Trương Thị C, sinh ngày 05/10/2007 tuy nhiên, anh U nhận thấy cháu C hiện đang sống với bên ngoại phát triển tốt về thể chất và tinh thần nên anh U đồng ý để chị Võ Thị Thúy H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, anh U không cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
- - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết.
Ngày 22/7/2024 anh Trương Văn U có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn chị Võ Thị Thúy H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cùng các bản sao tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị Võ Thị Thuý H vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn U và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Chị Võ Thị Thúy H và anh Trương Văn U chung sống như vợ chồng từ khoảng năm 2007. Năm 2007, chị H và anh U kết hôn là do tự nguyện và có đăng ký kết hôn; do đó hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Anh U trình bày nguyên nhân xin ly hôn là do thời gian đầu anh U và chị H chung sống hạnh phúc, thời gian sau không hiểu lý do gì mà chị H bỏ nhà ra đi từ năm 2008, anh U và chị H đã không còn sống chung khoảng từ năm 2008 đến nay nên anh U khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị H. Chị H được Toà án triệu trập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng cho thấy chị H không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân với anh U. Do đó, nhận thấy tình cảm vợ chồng của anh U, chị H không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với chị H của anh U là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 91, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh U không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn nên không xem xét.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh U và chị H có 01 con chung tên Trương Thị C, sinh ngày 05/10/2007, hiện con chung đang sinh sống với chị H. Anh U đồng ý để chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Trương Thi C, sinh ngày 05/10/2007, anh U không cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
Về tài sản chung: Anh U trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Anh U trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên, căn cứ các Điều 28, 35, 39, 91, 92, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn U.
- Về hôn nhân: Anh U được ly hôn với chị H; không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên không xem xét.
- Về con chung: Chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trương Thị C, sinh ngày 05/10/2007. Chị H không yêu cầu anh U cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Anh U trình bày không có không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Anh U trình bày không có không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về thẩm quyền: Chị Võ Thị Thúy H có đăng ký hộ khẩu và hiện đang sinh sống tại địa chỉ: ấp H, xã A, huyện T, tỉnh B. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về tố tụng: Anh Trương Văn U có yêu cầu xét xử vắng mặt, chị Võ Thị Thúy H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H và anh U.
[4] Về hôn nhân: Anh Trương Văn U và chị Võ Thị Thúy H chung sống như vợ chồng từ khoảng đầu năm 2007. Tháng 12 năm 2007, anh Trương Văn U và chị Võ Thị Thúy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc, cả hai có đủ điều kiện kết hôn. Việc kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 30/12/2007. Vì vậy quan hệ hôn nhân của chị H và anh U được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Nguyên nhân anh U yêu cầu ly hôn với chị H là do thời gian đầu anh U và chị H chung sống hạnh phúc, thời gian sau không hiểu lý do gì mà chị H bỏ nhà ra đi từ năm 2008, anh U và chị H đã không còn sống chung khoảng từ năm 2008 đến nay. Xét thấy: Hiện nay, chị H và anh U không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Tòa án đã tạo điều kiện để chị H và anh U hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng chị H vắng mặt không có lý do nên từ đó có căn cứ kết luận tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị H và anh U đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh U là phù hợp.
[5] Về con chung: Anh Trương Văn U và chị Võ Thị Thúy H có 01 con chung tên Trương Thị C, sinh ngày 05/10/2007 đang sống chung với chị H, anh U đồng ý để chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Trương Thị C, sinh ngày 05/10/2007. Xét thấy: cháu Trương Thị C đang sống chung với mẹ là chị H được chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển tốt về thể chất và tinh thần; đồng thời con chung có nguyện vọng sống chung với chị H. Vì vậy, cần giao con chung là Trương Thị C, sinh ngày 05/10/2007 cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật đồng thời đảm bảo được sự phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống của con chung. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn do chị H không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có căn cứ.
[6] Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn do anh U không có yêu cầu.
[7] Về tài sản chung: Anh U trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về nợ chung: Anh U trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Anh Trương Văn U phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[10] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, 147, Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trương Văn U. Anh Trương Văn U được ly hôn với chị Võ Thị Thúy H. Không xem xét giải quyết yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn do anh U không có yêu cầu.
- Về con chung: Chị Võ Thị Thuý H được trực tiếp nuôi con chung là Trương Thị C, sinh ngày 05/10/2007. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có căn cứ.
- Về tài sản chung: Anh Trương Văn U trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Anh Trương Văn U trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Anh Trương Văn U phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003694 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú và đã nộp xong.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tơ |
Bản án số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 104/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Trương Văn U và Võ Thị Thúy Hằng
