Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST

Ngày 18-7-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
  2. Bà Trần Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An- Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 198/2024/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1975; thường trú: Số D, đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; thường trú: Số D, đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Nguyễn Hoàng Quốc K, sinh năm 2003; thường trú: Số D, đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 3 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T thời gian tìm hiểu nhau khoảng hơn 02 năm, tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện D (nay là phường A, thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01/1999 ngày 24/7/2000.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại số nhà D, đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, bà H đã trực tiếp biết sự việc và đọc được những tin nhắn qua ứng dụng zalo giữa ông T và người phụ nữ đó; vợ chồng thường xuyên cãi nhau, ông T còn đánh bà H, cuộc sống không hạnh phúc. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phạm Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T có 03 con chung tên Nguyễn Hoàng Quốc T1, sinh ngày 11/12/2000; Nguyễn Hoàng Quốc K, sinh ngày 03/9/2003 và Nguyễn Hoàng Trúc P, sinh ngày 21/7/2011. Đối với 02 con chung tên Nguyễn Hoàng Quốc T1 và cháu Nguyễn Hoàng Quốc K đã trưởng thành nên không yêu cầu tòa giải quyết. Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng Trúc P và tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo biên bản lấy lời khai đương sự ngày 12 tháng 7 năm 2024 và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bị đơn ông Nguyễn Văn T thống nhất về thời gian tìm hiểu, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống. Về nguyên nhân mâu thuẫn, ông T xác định vợ chồng chỉ có những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày chứ không gay gắt. Ông T không thừa nhận việc bà H cho rằng ông có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Hiện nay hai vợ chồng vẫn đang sống hòa thuận, vui vẻ. Ông T xác nhận tình cảm vợ chồng vẫn còn, không muốn con khổ nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông T xác định quá trình chung sống với bà H có 03 con chung Nguyễn Hoàng Quốc T1, sinh ngày 11/12/2000; Nguyễn Hoàng Quốc K, sinh ngày 03/9/2003 và Nguyễn Hoàng Trúc P, sinh ngày 21/7/2011. Đối với 02 cháu Nguyễn Hoàng Quốc T1 và Nguyễn Hoàng Quốc K đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng Trúc P và tự nguyện không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, ông T không đi làm mà quản lý nhà trọ và cho thuê mặt bằng kinh doanh, thu nhập trung bình 01 tháng là 25.000.000 đồng.

- Theo biên bản lấy lời ngày 16 tháng 7 năm 2024, người làm chứng Nguyễn Hoàng Quốc K trình bày:

Anh là con của ông T và bà H, quá trình chung sống ông T, bà H không nói chuyện với nhau, nguyên nhân là do ông T có người phụ nữ bên ngoài khiến cho bà H cảm thấy rất khó chịu. Chính anh K đã bắt gặp ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chứ không phải là bà H kể lại cho anh K nghe. Bà H đã khuyên nhủ và cho ông Tân thời g, cơ hội để sửa chữa nhưng ông T vẫn không thay đổi. Thỉnh thoảng ông T đánh bà H, vợ chồng cãi nhau khiến cho cuộc sống trong nhà rất căng thẳng. Nay bà H xin ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho bà H được ly hôn.

- Tại biên bản xác minh ngày 03/6/2024, Hội Liên hiệp phụ nữ phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin sau: Trước khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, Hội Liên hiệp phụ nữ phường A không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Thu H. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông T và bà H, Hội Liên hiệp phụ nữ phường A không biết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của các đương sự: Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật liên quan.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01/1999 ngày 24/7/2000 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện D (nay là phường A, thành phố D), tỉnh Bình Dương nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[2] Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng, nguyên đơn xác định mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, ông T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, có hành vi bạo lực gia đình với bà H. Mặc dù ông T không thừa nhận nhưng qua chứng cứ do bà H cung cấp, lời khai của người làm chứng là con trai ruột của các đương sự có căn cứ xác định vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Ông T không đồng ý ly hôn với bà H với lý do còn tình cảm với bà H và không muốn con phải khổ nhưng ông T không đưa ra được phương án nào thỏa thuận, hàn gắn tình cảm vợ chồng, đồng thời trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 25 tháng 6 năm 2024 ông T vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà H là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Bà Phạm Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T có 03 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Quốc T1, sinh ngày 11/12/2000; cháu Nguyễn Hoàng Quốc K, sinh ngày 03/9/2003; cháu Nguyễn Hoàng Trúc P, sinh ngày 21/7/2011. Đối với 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Quốc T1 và cháu Nguyễn Hoàng Quốc K đã trưởng thành nên bà Phạm Thị Thu H không yêu cầu tòa giải quyết. Bà H yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng Trúc P. Xét thấy, cháu Nguyễn Hoàng Trúc P là con gái đang ở tuổi vị thành niên cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn, đồng thời cháu cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung cho bà Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Phạm Thị Thu H và ông Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Bà Phạm Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu H về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T [Giấy chứng nhận kết hôn số 77, quyển số 01/1999 ngày 24/7/2000 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện D (nay là phường A, thành phố D), tỉnh Bình Dương].
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hoàng Trúc P sinh ngày 21 tháng 7 năm 2011 cho bà Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị Thu H về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, bà H phải tạo điều kiện cho ông T trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

  1. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị Thu H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002980 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHÀNG TÒA

Đỗ Thị Liễng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 104/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Thu H tranh chấp ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger