Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 104/2024/HS-ST

Ngày: 13-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh
Thẩm phán: Ông Phạm Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Quyền
Bà Phạm Thị Sơn Ông Nguyễn Quốc Nông

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đăng L, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1995 tại xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;

HKTT: Thôn C, xã C, huyện T, Thành phố Hà Nội;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Số CCCD: [...], cấp ngày 12/5/2022; Con ông Nguyễn Đăng P, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1973; Có vợ là Tô Thị D (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 25/12/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Mã Thị K - Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.

Địa chỉ: Số F Bà T, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1983 (Có đơn xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Khu phố Vạn Lợi, phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá

  3. Bà Trần Thị L2, sinh năm 1973 (Có đơn xin vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Khu phố T, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Anh Vũ Tiến T1, sinh năm 1970 (Có đơn xin vắng mặt)
  2. Chị Trịnh Thị N, sinh năm 1974 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Số A đường N, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vợ chồng anh Vũ Tiến T1, chị Trịnh Thị N ở phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa có quen biết Nguyễn Đăng L ở thôn F, xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa lúc này đang làm “thầy cúng”. Nguyễn Đăng L nói bản thân quen với ông X - Chủ tịch UBND tỉnh T và các cán bộ, lãnh đạo ở các Sở, B, Ngành trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nên L có thể làm được sổ đỏ, chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Tin vào lời nói của L nên anh T1, chị N đã giới thiệu anh Nguyễn Văn L1 và bà Trần Thị L2 đều ở phường Q, thành phố S gặp Nguyễn Đăng L.

Anh L và bà L2 đã nhiều lần đưa tiền cho Nguyễn Đăng L để nhờ L làm sổ đỏ, chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Mỗi lần nhận tiền Nguyễn Đăng L đều viết giấy biên nhận có nội dung nhận tiền để làm sổ hoặc vay mượn. Sau khi nhận được tiền, Nguyễn Đăng L đã sử dụng vào mục đích cá nhân, L không đưa tiền cho ai, không liên hệ với ai làm sổ, không chuyển đổi mục đích sử dụng đất như đã hứa hẹn. Khi không còn khả năng khắc phục L đã trốn khỏi địa phương. Biết bị lừa, anh L, bà L2 đã làm đơn tố cáo Nguyễn Đăng L tới Cơ quan Công an.

Ngày 20/12/2023, Nguyễn Đăng L đến Công an CSĐT Công an tỉnh T đầu thú khai báo hành vi phạm tội.

Trên cơ sở kết quả điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đủ căn xứ xác định:

Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 09/2016, anh Vũ Tiến T1 đã gọi điện cho Nguyễn Văn L1 là người ở cùng phường Q, thành phố S đến nhà bàn công việc. Khi đến nhà anh T1, anh Nguyễn Văn L1 thấy có 01 người thanh niên đang ở đây. Anh T1 giới thiệu người này là Nguyễn Đăng L ở huyện T làm nghề “thầy cúng”. Sau đó, Nguyễn Đăng L giới thiệu với anh Nguyễn Văn L1 là do chuyên đi cúng nên quen biết với nhiều lãnh đạo ở tỉnh Thanh Hóa và quen biết với bác X - Chủ tịch UBND tỉnh T, do vậy bản thân Nguyễn Đăng L có khả năng làm được sổ đỏ, chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

Do anh T1 và anh Nguyễn Văn L1 đã bàn bạc chung nhau mua một lô đất 400m² ở Đ ven Sông M gần khu D, nên anh T1 nói sẽ nhờ Nguyễn Đăng L đứng ra mua. Do mới gặp Nguyễn Đăng L lần đầu nên anh Nguyễn Văn L1 không tin

tưởng. Anh L1 nói đồng ý nhưng chỉ giao tiền cho anh T1 và anh T1 phải chịu trách nhiệm với anh L1 thì cả 2 đồng ý.

Vào ngày 09/09/2016, anh Nguyễn Văn L1 mang 200.000.000 đồng đến nhà anh Vũ Tiến T1 và bàn giao cho anh T1. Lúc này Nguyễn Đăng L cũng có mặt tại đây nên anh T1 đã đưa luôn số tiền trên cho Nguyễn Đăng L. Khi nhận tiền Nguyễn Đăng L có viết giấy nhận tiền của anh Vũ Tiến T1 với nội dung vay nợ.

Tiếp đó, ngày 20/09/2016, anh Vũ Tiến T1 gọi điện nói với anh Nguyễn Văn L1 có bạn đi lính là Nguyễn Viết T2 ở phường Q, TP . có mảnh đất rộng 1000m², là đất trồng cây lâu năm. Nếu chuyển đổi thành đất ở cho anh T2 được thì anh T2 sẽ chia cho 500m². Anh T1 rủ anh Văn L1 xem đất, cùng góp tiền chuyển đổi mảnh đất trên để được hưởng 500m2 đất ở thì L1 đồng ý. Khi đi xem đất thì có Nguyễn Đăng L và 01 người đi cùng Đăng L . L giới thiệu người này là anh H - Thư ký cho bác X - Chủ tịch UBND tỉnh T. Sau khi xem đất, thỏa thuận với anh T2 xong, anh T1 có hỏi Nguyễn Đăng L có thể chuyển đổi được mảnh đất trên thành đất ở không thì Nguyễn Đăng L nói được nhưng chi phí khoảng 600.000.000đồng. Anh Nguyễn Văn L1 về nhà lấy số tiền 300.000.000 đồng mang đến đưa cho anh T1, anh T1 sau đó đưa cho Nguyễn Đăng L.

Khoảng 01 tháng sau, anh Nguyễn Văn L1 gọi điện cho anh Vũ Tiến T1 hỏi về việc đã có sổ lô đất 400m² ở Đại lộ ven sông M chưa thì anh T1 nói chưa được và cho anh Nguyễn Văn L1 số điện thoại của Nguyễn Đăng L. Khi anh Nguyễn Văn L1 gọi điện hỏi thì Nguyễn Đăng L nói anh H đang đi công tác, thời gian tới về sẽ làm bìa đất và dặn anh Nguyễn Văn L1 chuẩn bị sẵn số tiền còn thiếu như thỏa thuận ban đầu. Khoảng mấy ngày sau, anh Nguyễn Văn L1 và Nguyễn Đăng L hẹn gặp nhau ở quán cafe gần Công an T3. Anh Nguyễn Văn L1 nói với Nguyễn Đăng L về việc có mảnh đất 1000m², là đất trồng cây thầu 50 năm. Lúc này Nguyễn Đăng L nói muốn chuyển đổi thành đất ở thì chi phí khoảng 1.000.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn L1 đồng ý và nhờ Nguyễn Đăng L đứng ra chuyển đổi cho mình. Sau đó ít ngày anh Nguyễn Văn L1 đã 02 lần đưa tiền cho Nguyễn Đăng L, lần thứ nhất đưa 200.000.000 đồng, lần thứ 2 đưa 500.000.000 đồng, mỗi lần nhận tiền Nguyễn Đăng L đều viết giấy với nội dung vay nợ của anh Nguyễn Văn L1. Sau khi nhận tiền Nguyễn Đăng L đã không liên hệ với ai, không đưa tiền cho ai mà sử dụng vào mục đích cá nhân. Khi anh Nguyễn Văn L1 hỏi về việc làm xong thủ tục giấy tờ đất chưa thì Nguyễn Đăng L khất lần, sau đó trốn khỏi địa phương.

Như vậy, tổng số tiền anh Nguyễn Văn L1 bị Nguyễn Đăng L lừa đảo, chiếm đoạt là: 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng).

Vụ thứ hai: Khoảng tháng 6/2016, thông qua vợ chồng anh Vũ Tiến T1, chị Trịnh Thị N nên bà Trần Thị L2 mua được mảnh đất nông nghiệp diện tích rộng khoảng 1500m² của bà Trần Thị Đ ở phường Q, TP . với giá 1.850.000.000 đồng. Sau khi mua đất, do chưa chuyển đổi được mục đích sử dụng đất nên bà L2 nói với vợ chồng anh T1, chị N tìm cách giúp bà L2 chuyển đổi.

Đến ngày 22/08/2016, chị N gọi điện cho bà L2 xuống nhà, tại đây chị N giới thiệu bà L2 với 01 người thanh niên tên là Nguyễn Đăng L, làm nghề “thầy cúng” và có quen biết với nhiều lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa, có khả năng làm được sổ đỏ, chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Lúc này Nguyễn Đăng L cũng giới thiệu là quen biết nhiều lãnh đạo, trong đó quen bác X - Chủ tịch UBND tỉnh T, L có thể làm được sổ đỏ, chuyển đổi mục đích sử dụng đất. L đưa thông tin đối với lô đất của bà L2 rộng 1500m², cần phải chia tách thành 03 thửa để làm 03 sổ riêng, chi phí chuyển đổi mỗi sổ 200.000.000 đồng, thời gian khoảng 60 ngày. Nghe chị N và L nói vậy, bà L2 đã tin tưởng nên đặt vấn đề nhờ L giúp. L nói cần phải ứng trước số tiền 80.000.000 đồng, sau khi làm xong bà L2 phải đưa hết số tiền còn lại nên bà L2 đồng ý và đưa cho L số tiền 80.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Đăng L có viết giấy nhận tiền, nội dung để làm sổ đỏ cho bà L2.

Sau đó khoảng 03 ngày, L xuống nhà bà L2 nói “Cháu đã làm sổ gần xong, cô cho ứng ít tiền để hoàn tất hồ sơ”. Do vậy, bà L2 tiếp tục đưa cho L số tiền 280.000.000 đồng, L nhận tiền và viết giấy nội dung làm sổ cho bà L2. Ngoài 02 lần nhận tiền trên, Nguyễn Đăng L còn nhận của bà L2 số tiền 35.000.000đ, số tiền trên L không viết giấy biên nhận nhưng đã thừa nhận nội dung trên. Sau khi nhận tiền của bà L2, đến hẹn bà L2 gọi điện hỏi L về việc làm xong thủ tục chưa thì L viện các lý do khất lần sau đó ngắt liên hệ, bỏ trốn khỏi địa phương.

Như vậy, tổng số tiền bà Trần Thị L2 bị Nguyễn Đăng L lừa đảo, chiếm đoạt là: 395.000.000 đồng (Ba trăm chín mươi lăm triệu đồng).

Do đó đủ căn cứ xác định Nguyễn Đăng L đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin không có thật nhằm tạo niềm tin sau đó chiếm đoạt của 02 bị hại Nguyễn Văn L1 và Trần Thị L2 tổng số tiền 1.595.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm chín mươi lăm triệu đồng).

Quá trình điều tra, các bị hại và người có liên quan là anh Nguyễn Văn L1, bà Trần Thị L2 và ông Vũ Tiến T1 đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T các tài liệu sau: 03 (ba) tờ giấy nội dung vay tiền của Nguyễn Đăng L với Vũ Tiến T1 và Trịnh Thị N; 02 (hai) tờ giấy nhận tiền để làm sổ đỏ của Nguyễn Đăng L với Trần Thị L2; 02 (hai) tờ giấy nội dung vay tiền của Nguyễn Đăng L với Nguyễn Văn L1;

Tại bản Kết luận giám định số 2026/KLGĐ-PC54 ngày 30/9/2017 của Phòng K1 Công an tỉnh T (BL 104) kết luận: Chữ ký dạng chữ viết “Long” và chữ viết họ tên Nguyễn Đăng L ở tài liệu cần giám định (kí hiệu A1, A2) so với chữ ký dạng chữ viết “L” và chữ viết họ tên Nguyễn Đăng L ở mục “Bên nam” của tài liệu mẫu so sánh (kí hiệu M) do cùng một người viết ra.

Tại bản Kết luận giám định số 2430/KLGĐ-PC54 ngày 05/12/2017 của Phòng K1 Công an tỉnh T (BL 115) kết luận: Chữ viết họ tên “Nguyễn Đăng L” ở mục “Người vay” của tài liệu cần giám định (kí hiệu A1) và phía dưới nội dung của tài liệu cần giám định (kí hiệu A2) so với chữ viết họ tên “Nguyễn Đăng L” ở mục “Bên nam” của tài liệu mẫu so sánh (kí hiệu M) do do cùng một người viết ra.

Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Vũ Tiến T1 và Trịnh Thị N. Đây là 02 người đã giới thiệu Nguyễn Đăng L cho anh Nguyễn Văn L1 và bà Trần Thị L2. Qua điều tra xác định Vũ Tiến T1 chỉ đứng ra nhận tiền của anh Nguyễn Văn L1 do anh L1 yêu cầu làm tin nhưng sau đó đã đưa luôn số tiền này cho Nguyễn Đăng L. Nguyễn Đăng L cũng đã thừa nhận không bàn bạc, thống nhất, thỏa thuận và đưa bất kỳ số tiền nào cho Vũ Tiến T1 và Trần Thị N1. Vũ Tiến T1 và Trần Thị N1 cũng chỉ tin Nguyễn Đăng L do L giới thiệu có mối quan hệ với các lãnh đạo của tỉnh chứ không được hưởng lợi gì. Do đó, hành vi nêu trên của Vũ Tiến T1 và Trịnh Thị N không cấu thành tội phạm, không đồng phạm với Nguyễn Đăng L nên không có căn cứ để xử lý.

Tại cáo trạng số 56/CT-VKS-P2, ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Nguyễn Đăng L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 12 năm đến 13 năm tù.

Về phần dân sự: Công nhận đã bồi thường xong.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú với cơ quan điều tra và bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án 12 năm tù.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ

luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đăng L đã thừa nhận:

Trong năm 2016, thời điểm trên thành phố S, tỉnh Thanh Hóa đang trong quá trình quy hoạch, phát triển để trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Thanh Hóa. Lợi dụng nhiều người có nhu cầu làm giấy chứng nhận và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nên Nguyễn Đăng L đã đưa ra các thông tin gian dối, không có thật để tạo niềm tin cho các bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Từ tháng 08/2016 đến tháng 9/2016, Nguyễn Đăng L đã chiếm đoạt của 02 bị hại tổng số tiền là 1.595.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm chín mươi lăm triệu đồng).

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện trước ngày 01/01/2018 nên Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, hành vi của bị cáo Nguyễn Đăng L phải áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 để giải quyết. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Nguyễn Đăng L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng do khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 ngang bằng nhau nên Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Đăng L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999.

[3] Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết về pháp luật và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã dùng thủ đoạn gian dối, nói có khả năng làm được sổ đỏ và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhằm chiếm đoạt tài sản của các cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã đầu thú khai báo hành vi phạm tội. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn

hối cải; Bị cáo đã bồi thường cho các bị hại toàn bộ số tiền chiếm đoạt để khắc phục hậu quả; Các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Trong thời gian sinh sống tại địa phương, bị cáo đã có đóng góp xây dựng quê hương, được chính quyền địa phương gửi thư cảm ơn. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, hiện đang bị tạm giam, nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về phần dân sự: Bị cáo và các bị hại đã thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại. Anh L, bà L2 không có yêu cầu bổi thường gì. Do đó công nhận đã bồi thường xong.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 4 Điều 139; Điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đăng L 12 (Mười hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận đã bồi thường xong.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14. Bị cáo Nguyễn Đăng L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - Lưu HSVA; Lưu Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 104/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đăng Long phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger