|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2024/HS-ST
Ngày 10 - 9- 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thái Duy - chức vụ: Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thành phố Cẩm Phả.
2. Bà Lê Thị Thanh Thủy – chức vụ: Nguyên chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ thành phố Cẩm Phả.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Ông Lã Hải Long - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; tên gọi khác: không; sinh ngày: 05/02/2007, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh (tại thời điểm phạm tội 17 tuổi 01 tháng 01 ngày); nơi cư trú: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Học sinh trường THPT T4, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; trình độ học vấn: lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H1 và bà: Đoàn Thị H2; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn H: anh Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1983 và chị Đoàn Thị H2, sinh năm: 1985 (là bố mẹ của bị cáo); cùng nơi cư trú: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; anh Nguyễn Văn H1 đồng thời là người bào chữa cho bị cáo, có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: anh Nguyễn Danh Đ, sinh ngày: 24/3/2006, nơi cư trú: tổ I, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: cháu Đỗ Hùng M, sinh ngày 10/11/2008; người đại diện hợp pháp: anh Đỗ Xuân H3, sinh năm 1981 và chị Trần Thị H4, sinh năm 1988 (là bố, mẹ đẻ của Đỗ Hùng M); cùng nơi cư trú: thôn Đ, xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
* Người làm chứng: + Cháu Nguyễn Ngọc L, sinh ngày: 02/12/2006; người đại diện hợp pháp: anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm: 1978; cùng nơi cư trú: tổ C, khu H, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
+ Cháu Trần Minh Đ1, sinh ngày: 11/11/2006; người đại diện hợp pháp: chị Tôn Thị H5, sinh năm: 1972, cùng nơi cư trú: tổ E, khu I, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
+ Cháu Nguyễn Đình P, sinh ngày: 11/9/2006; người đại diện hợp pháp: anh Nguyễn Đình X, sinh năm: 1970; cùng nơi cư trú: tổ E, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
+ Các anh: Nguyễn Thành N, Trương Thành C, Hoàng Duy M1, Đặng Tiến T1, Đỗ Quang T2, Lê Đức A.
(Đều vắng mặt tại phiên toà).
* Người tham gia tố tụng khác: ông Bùi Đức M2 – Tổ trưởng Tổ chuyên môn Trường T4, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H và Nguyễn Ngọc L (sinh năm 2006) có xảy ra mâu thuẫn dẫn đến thách thức đánh nhau thông qua ứng dụng Messenger, cả hai đã hẹn gặp nhau vào ngày 06/3/2024, tại cửa hàng X1, thuộc tổ A, khu G, phường Q, thành phố C để giải quyết mâu thuẫn. Để đi đến điểm hẹn, H đã rủ thêm hai thanh niên mới quen biết qua mạng xã hội là Phạm Q, M1 (đều chưa xác định lai lịch, địa chỉ) và rủ bạn học cùng trường là Đỗ Hùng M (sinh ngày 10/11/2008), trú tại thôn Đ, xã V, huyện H, thành phố H đi đánh nhau với nhóm L, M đồng ý. H bảo M mang theo hung khí để sử dụng, M cầm theo và cho H xem 01 con dao gấp bằng kim loại dài 13,5cm, bản rộng 1,5cm, mũi nhọn để trong cốp xe mô tô; M còn chở H về nhà H lấy 01 con dao quắm, dài khoảng 01m. Để đi đến chỗ hẹn với H thì L đã rủ các bạn là Nguyễn Danh Đ (sinh ngày 24/3/2006), Nguyễn Thành N, Trương Thành C, Trần Minh Đ1, Hoàng Duy M1, Nguyễn Đình P, Đặng Tiến T1, đều sinh năm 2006, là bạn học cùng T3 cao đẳng T5, cả nhóm còn mang theo gậy bóng chày, tuýp kim loại có gắn dao tự chế, đến điểm hẹn gặp nhóm H. Khoảng 17 giờ cùng ngày hai nhóm đều có mặt tại điểm hẹn và đã xảy ra cãi chửi nhau, rồi sử dụng hung khí đuổi đánh nhau, trong quá trình xô xát, M đã dùng dao gấp mang theo, đâm về phía Đ thì trúng vào phần ngực bên phải của Đ, gây thương tích, Đ được đưa đi bệnh viện cấp cứu, cùng ngày mẹ của Đ là chị Trần Thị Hồng H6 đến Công an phường Q trình báo.
Sau khi xảy ra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định: hiện trường vụ án tại khu vực đường bê tông phía trước trạm xăng T6, khu G, phường Q; tiếp giáp Quốc lộ G, xung quanh là khu vực đồi núi, bãi đất, không có dân cư sinh sống. Cơ quan điều tra thu giữ: 01 con dao bằng kim loại dạng dao gấp, mũi nhọn, có 01 lưỡi sắc, dài 13,5cm, bản rộng 1,5cm, do Đỗ Hùng M giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 do Nguyễn Văn H giao nộp; 01 gậy bóng chày kim loại dài 30cm do Nguyễn Ngọc L giao nộp; 01 dây thắt lưng giả da, dài 01m, do cháu Nguyễn Thành N giao nộp; 01 thẻ nhớ lưu video ghi lại diễn biến vụ việc, do người làm chứng anh Lê Đức A quay lại và giao nộp.
Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 06/3/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Q thể hiện thương tích của Nguyễn Danh Đ: bị 01 vết thương thành ngực phải khoảng 01cm sắc gọn, vị trí khoang liên sườn IV đường giữa đòn phải. Kết quả chụp cắt lớp: Tràn khí màng phổi phải chỗ dày nhất khoảng 50mm, hình ảnh một vài bóng khí thành ngực phải ngang mức xương sườn 3, 4, 5.
Theo bản kết luận giám định pháp y số 188A, 188B ngày 15/03/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận: tỷ lệ phần trăm : bị 01 vết thương thành ngực phải khoảng 01cm sắc gọn, vị trí khoang liên sườn IV đường giữa đòn phải. Kết quả chụp cắt lớp: Tràn khí màng phổi phải chỗ dày nhất khoảng 50mm, hình ảnh một vài bóng khí thành ngực phải ngang mức xương sườn 3, 4, 5. tổn thương cơ thể của Nguyễn Danh Đ là 13%. Cơ chế tổn thương: vết thương nêu trên do vật sắc nhọn có 01 lưỡi sắc tác động trực tiếp gây nên theo hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau. Con dao do Đỗ Hùng M giao nộp phù hợp với đặc điểm tổn thương của Nguyễn Danh Đ, xác định con dao gấp bằng kim loại gửi giám định có thể gây ra được thương tích của Nguyễn Danh Đ.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 189 ngày 15/03/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Hùng M là 01%. Các tổn thương do vật tày trực tiếp tác động gây nên.
Tại bản kết luận giám định số 544 ngày 23/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: trên lưỡi dao gửi giám định do M giao nộp có máu của Nguyễn Danh Đ.
Tại bản cáo trạng số 1335/CT-VKSCP ngày 11/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo đã rủ bạn là Đỗ Hùng M và hai người bạn mới quen, không biết địa chỉ cụ thể tên là Q và M1 đi đánh nhau với nhóm của L. Cả nhóm chở nhau đi trên 02 xe mô tô, bị cáo mang theo một con dao quắm, M mang theo một con dao gấp. Nhóm bị cáo đến điểm hẹn trước và đứng chờ nhóm của Nguyễn Ngọc L, tại đây bị cáo giấu con dao quắm vào bụi cỏ ven đường, M bỏ con dao gấp ra cho cả nhóm xem rồi cất vào trong túi áo khoác, khi hai nhóm gặp nhau bị cáo và H cãi chửi nhau trước sau đó hai nhóm lao vào đánh nhau. L có dùng gậy bóng chày đánh bị cáo nên bị cáo có nhặt gạch đá ném lại. Nguyễn Danh Đ có đuổi đánh M nên bị M dùng dao gấp đâm trúng ngực gây thương tích, làm tổn hại 13% sức khỏe của Nguyễn Danh Đ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội: "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng, không bị oan. Sau khi sự việc xảy ra gia đình bị cáo cùng với gia đình của Đỗ Hùng M đã bồi thường cho Nguyễn Danh Đ số tiền 10.000.000 đồng, gia đình Nguyễn Danh Đ cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 bị Cơ quan điều tra thu giữ bị cáo sử dụng vào việc liên lạc với Nguyễn Ngọc L để hẹn địa điểm đánh nhau. Hiện bị cáo còn là học sinh, đang đi học nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất để bị cáo tiếp tục đến trường học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình.
Anh Nguyễn Văn H1, chị Đoàn Thị H2 – là người đại diện hợp pháp, anh H1 còn là người bào chữa của bị cáo H có mặt tại phiên tòa đều có quan điểm: việc truy tố và xét xử đối với bị cáo H là đúng, tuy nhiên bị cáo phạm tội ở lứa tuổi chưa thành niên, nhận thức hạn chế, thiếu sự quan tâm của bố mẹ, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, xử bị cáo H với mức án thấp nhất để bị cáo được yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội. Anh H1 đã cùng với gia đình cháu Đỗ Hùng M đến thăm hỏi động viên gia đình bị hại, chi trả tiền viện phí và bồi thường cho bị hại, anh không yêu cầu bị cáo phải trả lại.
Tại Cơ quan điều tra và đơn xin vắng mặt tại phiên toà, bị hại là anh Nguyễn Danh Đ có lời khai thể hiện: giữa anh và bị cáo không có mối quan hệ, không mâu thuẫn gì từ trước, vào ngày 06/3/2024 L (là bạn học cùng lớp với anh) nhờ anh gọi điện cho Hùng A1 (bị cáo H) để hẹn đánh nhau. Sau đó L có rủ anh và các bạn T1, N, C, Đ1, M1, P điều khiển 04 xe mô tô chở nhau đến điểm hẹn. Tại đây hai nhóm xông vào đánh nhau, khi anh vừa xuống xe thì Đỗ Hùng M bị N bên nhóm của anh đuổi đánh, N hô chặn Minh lại thì M chạy về phía anh theo hướng đối diện và dùng tay vung theo chiều từ trên xuống dưới chạm vào vùng ngực bên phải của anh, ngoài ra anh còn bị 02 nam thanh niên khác bên nhóm của H dùng tay, chân đấm vào lưng và đá vào chân nhưng không gây thương tích, sau đó anh nhờ N chở về nhà và được gia đình đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Q để cấp cứu. Anh thấy cũng có một phần lỗi, anh đã được gia đình của người gây thương tích trả toàn bộ chi phí điều trị thương tích và bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, anh không yêu cầu bồi thường thêm, tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa anh vẫn giữ quan điểm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đến mức thấp nhất.
Ông Bùi Đức M2 – là tổ trưởng Tổ chuyên môn Trường THPT T4, thành phố H và là người trực tiếp chủ nhiệm lớp của bị cáo H, có mặt tại phiên tòa và có quan điểm: hiện tại bị cáo vẫn tiếp tục đi học, sau khi sự việc xảy ra thì ông có hỏi thăm và cùng gia đình bị cáo tiếp tục giám sát, giáo dục bị cáo, hiện tại bị cáo đi học đầy đủ và ngoan hơn, chấp hành tốt nội quy của nhà trường. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án nhẹ nhất, cho bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục theo học, nhà trường cũng sẽ phối hợp với gia đình bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Tại Cơ quan điều tra, tại đơn xin xử án vắng mặt, người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cháu Đỗ Hùng M có lời khai thể hiện: khoảng 16 giờ 10 phút ngày 06/3/2024 bị cáo H rủ cháu M đến thành phố C để đánh nhau thì M đồng ý, M đã vào nhà lấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus màu đỏ cầm theo con dao gấp cho H xem rồi mang theo, đi cùng với hai nam thanh niên (là bạn của H), cả nhóm đi đến điểm H và L đã hẹn. Tại đây M lấy con dao gấp trong cốp xe ra cho cả nhóm xem rồi để vào bên trong túi bên phải áo khoác đang mặc, chờ khoảng 10 phút thì có một nhóm khoảng 10 người chở nhau đến bằng xe mô tô, nhóm này có mang theo gậy bóng chày sáng màu, 01 thanh côn có một đầu gắn dây xích; 01 thanh gậy màu đen; 01 thanh kiếm tự chế. Hai bên xảy ra chửi nhau rồi lao vào đánh nhau, M mở dao gấp ra rồi cầm dao ở tay phải, hướng mũi dao về phía giữa ngón tay cái và tay phải rồi bỏ chạy thì có một nam thanh niên cũng đang chạy về phía M để chặn, khi đó có một thanh niên khác trong nhóm đối phương đuổi đến sau M và dùng hung khí đánh trúng vào lưng M, thấy vậy M đã dùng tay phải cầm dao đâm về phía người nam thanh niên mặc áo phông cộc tay màu đen bên trong, khoác một áo khoác màu đen bên ngoài không kéo khoá đang đứng đối diện. Lúc đó M không xác định được đã đâm trúng hay chưa, sau đó có ai ở phía sau dùng tay tóm vào vai bên trái của M, M chạy được khoảng 3 bước thì tự vấp ngã đập ngực và bụng xuống đất, M đã nhét dao vào bên trong túi bên phải của áo khoác đen đang mặc, M chưa kịp đứng dậy thì có khoảng 4 – 5 người trong nhóm đối phương dùng gậy và chân đánh trúng đầu, lưng và bàn tay trái của M. Có người đàn ông ra hô thì nhóm đối phương bỏ đi, nhóm của M đi về hướng xã V, H đưa con dao tự chế có cán dài màu đen sử dụng để đánh nhau cho hai nam thanh niên bảo mang ra cầu B vất đi. H chở M về, tại nhà M lấy con dao gấp đã sử dụng để đánh nhau ra xem thì thấy trên lưỡi dao có dính vết máu nên đã giấu dao vào bên trong gầm tủ ở phòng ngủ, đến tối M nhắn tin qua messenger cho H và chụp hình ảnh con dao gấp có dính máu ở lưỡi dao, M không gặp lại hai nam thanh niên bạn của H nữa. M giao nộp con dao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra. Theo kết luận giám định thì M cũng bị tổn hại 1% sức khoẻ nhưng không yêu cầu ai bồi thường.
Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Đỗ Hùng M cũng có quan điểm tại hồ sơ vụ án thể hiện: vào ngày 06/3/2024 cháu M có tham gia đánh nhau tại phường Q và sử dụng dao đâm cháu Đ gây thương tích, quá trình đánh nhau M cũng bị người khác đánh gây thương tích tổn hại 1% sức khoẻ, gia đình không yêu cầu đề nghị gì khác. Gia đình M cũng cùng với gia đình bị cáo H đã đến thăm gặp cháu Nguyễn Danh Đ, chi trả tiền viện phí và cùng đền bù số tiền 10.000.000 đồng cho cháu Đ. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus biển kiểm soát 14V1-092.07 là xe của chị H4 (mẹ của cháu Đỗ Hùng M), ngày 06/3/2024 chị H4 đi làm để xe mô tô và chìa khoá ở nhà, chị H4 không biết việc cháu M sử dụng mô tô trên để đi đánh nhau.
Người làm chứng là các cháu Nguyễn Ngọc L, Trần Minh Đ1, Nguyễn Đình P và các anh: Nguyễn Thành N, Trương Thành C, Hoàng Duy M1, Đặng Tiến T1, Đỗ Quang T2, Lê Đức A đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: cả nhóm là bạn của nhau, do L có mâu thuẫn cá nhân với Nguyễn Văn H nên đã nhiều lần L và H nhắn tin qua mạng xã hội hẹn gặp đánh nhau, L thừa nhận đã rủ thêm bạn là Nguyễn Duy Đ2, Hoàng Duy M1, Trương Thành C, Trần Minh Đ1, Nguyễn Thành N, Nguyễn Đình P rồi cả nhóm chuẩn bị hung khí gồm gậy bóng chày (của Nguyễn Ngọc L), dây thắt lưng (của Nguyễn Thành N), để đi gặp nhóm của Nguyễn Văn H đánh nhau. Quá trình xô xát Đặng Tiến T1, Trương Thành C, Hoàng Duy M1, Nguyễn Thành N, Nguyễn Danh Đ, Nguyễn Ngọc L cũng đá có hành vi đánh Đỗ Hùng M gây thương tích tổn hại 1% sức khoẻ. L và N đã nộp lại 02 vật chứng này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, L cũng bị đánh nhưng không để lại thương tích.
Anh Lê Đức A là người làm chứng vắng mặt tại phiên toà có lời khai tại hồ sơ thể hiện: anh là nhân viên tại cửa hàng xăng dầu cấp 1 Q, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 06/3/2024 anh nhìn ra đường thì thấy có 04 thanh niên đi trên 02 xe máy đang đỗ ở khu vực rìa đường, khoảng 30 phút sau thì anh nghe thấy bên ngoài đường có tiếng hô to chửi bới và tiếng kim loại va chạm vào nhau, anh đứng ở cây xăng nhìn ra thì thấy có 02 nhóm thanh niên có khoảng 10 người đang xông vào đánh nhau. Anh thấy có khoảng 04 – 05 người cầm gậy gỗ đang tấn công đánh một người cầm gậy bóng chày. Sau khi đổ xăng xong anh tiếp tục nhìn ra đường thì thấy có một người thanh niên đang nằm ở giữa đường và bị khoảng 4-5 người xông vào dùng cây, gậy bóng chày, chân tay tấn công đấm đá... anh dùng điện thoại quay lại hình ảnh của hai nhóm thanh niên trên.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Cố ý gây thương tích”, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 6 Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 17; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn H từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (hai tư) đến 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo H; tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại thu giữ của bị cáo H, 01 con dao thu giữ của Đỗ Hùng M; 01 dây lưng, 01 gậy bóng chày.
Tại phần tranh luận: người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa của bị cáo H và thầy giáo của bị cáo đều có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, xử bị cáo H với mức án thấp nhất, tạo điều kiện để bị cáo có thể tiếp tục học tập trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
- Bị cáo H nhất trí với quan điểm của người bào chữa, bị cáo thấy ân hận với hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo tốt, thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp và đồng thời là người bào chữa cho bị cáo H, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng đều không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và còn phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; Biên bản thực nghiệm điều tra; Biên bản và Sơ đồ hiện trường; các biên bản làm việc v/v xem và xác định hình ảnh trong video; Bản ảnh thương tích; Hồ sơ bệnh án của bị hại; Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa tỉnh Q cấp cho anh Nguyễn Danh Đ; các bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 188A, 188B, 189 ngày 15/03/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y; Kết luận giám định số 544 ngày 23/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q cùng với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 17 giờ ngày 06/3/2024, tại tổ A, khu G, phường Q, thành phố C, do có mâu thuẫn với Nguyễn Ngọc L, nên bị cáo H đã rủ cháu Đỗ Hùng M (sinh ngày 10/11/2008) mang theo 01 con dao gấp bằng kim loại mũi nhọn là hung khí nguy hiểm, để đánh nhau với nhóm của Đỗ Ngọc L1, trong đó có Nguyễn Danh Đ, sinh ngày 24/3/2006 (là bạn của L1). Trong quá trình xô xát đánh nhau, Đỗ Hùng M đã dùng con dao gấp đâm trúng vào thành ngực của anh Nguyễn Danh Đ dẫn đến bị thương tích, tổn hại 13% sức khoẻ. Hành vi phạm tội của bị cáo với tình tiết định khung tăng nặng là dùng hung khí nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự, đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố đối với bị cáo.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, mặc dù bị cáo không trực tiếp gây thương tích cho anh Đ nhưng do bị cáo là người khởi xướng, rủ rê cháu Đỗ Hùng M đã dẫn đến việc xâm phạm an toàn về sức khoẻ của anh Đ và còn gây mất trật tự trị an xã hội, do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm minh phù hợp với tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét, vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo là người hẹn với nhóm của Nguyễn Ngọc L đi đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn, chuẩn bị hung khí, rủ rê Đỗ Hùng M cùng với 02 người bạn (đều không xác định được lý lịch địa chỉ) đi đánh nhau, biết M chuẩn bị hung khí mang theo nhưng không can ngăn, cùng cả nhóm đánh nhau với nhóm của Nguyễn Ngọc L, tuy không trực tiếp gây ra thương tích cho Nguyễn Danh Đ nhưng bị cáo phải chịu chung trách nhiệm đối với hậu quả do Đỗ Hùng M gây ra. Hội đồng xét xử có xem xét, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Gia đình bị cáo đã cùng với gia đình cháu Đỗ Hùng M tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có ông bà là người có công với cách mạng, ông nội bị cáo là thương binh, ngoài ra cũng xác định trong vụ án này cũng có một phần lỗi của bị hại cũng tích cực cùng với nhóm của Nguyễn Ngọc L đánh nhau với nhóm của bị cáo H, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần thiết cho bị cáo mức án thấp dưới khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật.
- Bị cáo H khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi - là người chưa thành niên, nên khi xem xét quyết định hình phạt cần cân nhắc, áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự quy định về đường lối xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội, xử phạt các bị cáo ở mức nhẹ hơn so với mức áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương tự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, không cần bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho cải tạo tại địa phương để bị cáo tiếp tục việc học tập dưới sự giám sát của gia đình và nhà trường cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo cùng với gia đình cháu Đỗ Hùng M đã chi phí tiền viện phí điều trị vết thương và bồi thường số tiền 10.000.000 đồng thiệt hại về sức khỏe cho anh Đ, bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: con dao Đỗ Hùng M dùng để gây thương tích cho anh Nguyễn Danh Đ, 01 gậy bóng chày do Nguyễn Ngọc L giao nộp và 01 dây lưng do Nguyễn Thành N giao nộp đều là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ. Anh Đức A giao nộp 01 thẻ nhớ đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu trữ cùng hồ sơ vụ án. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 thu giữ của bị cáo, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Chiếc sim điện thoại thu giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Về các vấn đề khác: Đỗ Hùng M có hành vi trực tiếp gây thương tích cho Nguyễn Danh Đ, nhưng chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, Uỷ ban nhân xã V, thành phố H đã ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Đỗ Hùng M. Các cháu Đặng Tiến T1, Trương Thành C, Hoàng Duy M1, Nguyễn Thành N, Nguyễn Danh Đ, Nguyễn Ngọc L có hành vi dùng hung khí đánh cháu Đỗ Hùng M gây thương tích tổn hại 01% sức khoẻ. Do cháu M không đề nghị xử lý hình sự đối với hành vi trên, nên không cấu thành tội phạm. Công an thành phố C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M, T1, C, M1, N, Đ, L.
- Nhóm Nguyễn Văn H và nhóm Nguyễn Ngọc L xô xát đuổi đánh nhau, Ủy ban nhân dân thành phố C có Công văn xác định vụ việc trên chưa đến mức gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, hành vi trên không cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, nên không đề cập xử lý.
- Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo H, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng với người đại diện hợp pháp có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 6 Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 17; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Xử phạt: Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và Trường THPT T4, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cứ trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đang áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại, dạng dao gấp, mũi nhọn, dài 13,5cm; 01 (một) dây thắt lưng giả da, màu đen, dài 01m, bản rộng 05 cm, một đầu dây gắn mặt thắt lưng bằng kim loại; 01 (một) gậy bóng chày bằng kim loại dài 80cm và 01 (một) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số: 8984, 04800, 03191, 38973 thu giữ của bị cáo H.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, màn hình bị vỡ thu giữ của Nguyễn Văn H.
Tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 148/BB-THA ngày 14/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai có mặt: bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo H; vắng mặt: bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp; Báo cho biết, người có mặt được quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Quýnh |
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: ""Cố ý gây thương tích""
