Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10-5-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Mạnh Hùng

Ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/QĐ-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; ĐKHKTT: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: 47 Nonggongdanji-gil, Hapdeok-eup, D-si, C-do, Hàn Quốc; vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn T; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn là chị Phạm Thị H trình bày:

Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 18/07/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống được một thời gian ngắn, vì điều kiện gia đình nên đến năm 2016, chị H phải đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Thời gian này vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu. Đến nay mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, không thể giải quyết. Mặc dù, hai vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Nay chị H không còn tình cảm với anh T, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn T.

Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Đỗ Hồng Q, sinh ngày 15/01/2009 và cháu Đỗ Quang Đ, sinh ngày 07/4/2016. Ly hôn, chị H yêu cầu giao hai con chung cho anh Đỗ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Đỗ Văn T:

Quá trình giải quyết vụ án, anh Đỗ Văn T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có mặt theo lịch triệu tập của Tòa án; gia đình anh T đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án thay anh Đỗ Văn T. Xác minh tại địa phương và gia đình anh T thể hiện: Anh Đỗ Văn T hiện đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Anh Đỗ Văn T thỉnh thoảng đi làm xa rồi lại về nhà sống cùng bố mẹ đẻ của anh T. Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng vào năm 2008. Sau khi kết hôn, anh T và chị H chung sống hòa thuận tại nhà bố mẹ đẻ anh T. Chị H sang Hàn Quốc từ năm 2016 đến nay chỉ về một, hai lần thăm con. Chị H muốn định cư ở Hàn Quốc, không muốn về Việt Nam nên hai vợ chồng xa cách, mỗi người ở một nơi. Gia đình anh T muốn hai vợ chồng chị H, anh T đoàn tụ. Anh T đã biết việc chị H xin ly hôn tuy nhiên do tính chất công việc hay đi làm ăn xa nên không đến Tòa án làm việc được. Gia đình cho biết anh T có quan điểm chị H khởi kiện xin ly hôn thì đó là việc của chị H. Nay chị H yêu cầu xin ly hôn với anh T, gia đình anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Anh chị có hai con chung là cháu Đỗ Hồng Q, sinh ngày 15/01/2009 và cháu Đỗ Quang Đ, sinh ngày 07/4/2016 hiện đang ở cùng với anh T và ông bà nội. Gia đình anh T có nguyện vọng giao hai con chung cho anh T nuôi dưỡng. Về tài sản chung của anh T và chị H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có yêu cầu xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn T. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Đỗ Hồng Q, sinh ngày 15/01/2009 và cháu Đỗ Quang Đ, sinh ngày 07/4/2016 cho anh Đỗ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, chị Phạm Thị H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với Anh Đỗ Văn T. Do đó quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị Phạm Thị H hiện nay đang sinh sống ở Hàn Quốc, bị đơn là anh Đỗ Văn T hiện nay đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Hải Phòng, theo khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Phạm Thị H vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đỗ Văn T vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng vào ngày 18/07/2008. Theo Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị Phạm Thị H, bố đẻ của chị H là ông Phạm Đức M, mẹ đẻ của anh Đỗ Văn T và biên bản xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh Đỗ Văn T sinh sống thể hiện: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T, chị H chung sống hòa thuận tại gia đình anh T cho đến khi chị H sang Hàn Quốc xuất khẩu lao động từ năm 2016. Từ đó đến nay, chị H chỉ về Việt Nam một, hai lần thăm con. Thực tế, hiện nay vợ chồng mỗi người ở một nơi, không cùng chung sống cho thấy đời sống hôn nhân không tồn tại. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã triệu tập, thông báo hợp lệ cho anh T đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh T không có mặt theo lịch triệu tập của Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H gửi đến Tòa án. Nhận thấy, tình cảm của chị H dành cho anh T không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài. Do vậy, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị H đối với anh Đỗ Văn T.

[4] Về con chung: Xét thấy, hai con chung của anh T và chị H là cháu Đỗ Hồng Q, sinh ngày 15/01/2009 và cháu Đỗ Quang Đ, sinh ngày 07/4/2016 hiện đang ăn ở sinh hoạt ổn định cùng anh T và ông bà nội tại thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Hai cháu đều có nguyện vọng được ở với anh T trong trường hợp bố mẹ các cháu ly hôn. Chị H đang sinh sống và làm việc ở Hàn Quốc, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Do vậy, việc chị H yêu cầu giao hai con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện sinh hoạt của hai con, phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình và phù hợp với nguyện vọng của các con chung nên cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, anh T không có quan điểm trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị H.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn T.
    2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Đỗ Hồng Q, sinh ngày 15/01/2009 và cháu Đỗ Quang Đ, sinh ngày 07/4/2016 cho anh Đỗ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

      Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000106 ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Chị Phạm Thị H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

    Anh Đỗ Văn T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Quang Trung, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 104/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger