|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 104/2024/HS-ST Ngày 09 tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lý Quang Minh;
- Ông Ngô Văn Thế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:
Họ và tên: Lừu Văn T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/01/1994, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi tạm trú: Bản S, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Lừu Văn L, đã chết; mẹ đẻ: Lành Thị H, sinh năm 1954; gia đình bị cáo có 08 anh em, bị cáo là con thứ 7; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Bản án số: 62/2017/HSST, ngày 16/8/2017, của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo 24 (Hai mươi tư) tháng tù, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Lò Văn K, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 28/02/1995, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản N, xã M, đẻ: Vàng Thị D, sinh năm 1962; gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 03; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đèo Văn T1, sinh năm 1983, địa chỉ: Bản N, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 04/5/2024, Lừu Văn T và Lò Văn K rủ nhau mua ma túy sử dụng. Khoảng 11 giờ, ngày 04/5/2024, trong giờ nghỉ trưa, T và K đến gặp anh Đèo Văn T1, là chủ công trình xây dựng nơi T và K đang làm thuê, hỏi xin ứng trước tiền công, mỗi người 100.000 đồng để đi mua nước uống. Anh T1 nhất trí và đưa số tiền 200.000 đồng cho K, bảo Kiếm và T tự chia nhau. Sau đó, T tự ý lấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25F3-6389, xe của anh T1, để ở công trường, T điều khiển xe mô tô chở K đi mua ma túy. Trên đường đi, K đưa số tiền 200.000 đồng cho T cầm, T lấy tiền mua xăng, nước uống hết 50.000 đồng, trả nợ cho chủ quán nước 100.000 đồng, còn lại 50.000 đồng. Khi đi đến bản H, xã P, huyện P, T và K gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch cụ thể, T đến nhờ người đàn ông mua được hộ 01 gói Heroine giá 50.000 đồng. Mua được H1, T tiếp tục điều khiển xe mô tô chở K đi về. Trên đường về, T và K đã cấu một ít H1 rồi cùng nhau sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, T cất giấu trong túi quần để mang về cùng K sử dụng. Hồi 14 giờ 00 phút, ngày 04/5/2024, khi Lừu Văn T, Lò Văn K đi đến bản P, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu thì bị Công an xã P phát hiện, bắt quả tang và vật chứng thu giữ của T và K là 01 gói Heroine và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25F3-6389.
Tại Kết luận giám định số: 27/KL-GĐVV, ngày 04/5/2024, của Giám định viên tư pháp theo vụ việc kết luận: Gói chất bột màu trắng dạng cục, thu giữ của Lừu Văn T và Lò Văn K có khối lượng là: 0,15 gam. Bản Kết luận giám định số: 517/KL-KTHS, ngày 07/5/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh L, Kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 64/CT-VKSPT, ngày 20 tháng 8 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lừu Văn T và bị cáo Lò Văn K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Lừu Văn T, Lò Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lừu Văn T mức hình phạt từ 01 (Một) năm, 05 (Năm) tháng đến 01 (Một) năm 08 (T2) tháng tù; xử phạt bị cáo Lò Văn K mức hình Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Tịch thu tiêu hủy: 0,06 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu xanh; các vỏ niêm phong. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 01 chiếc xe mô biểm kiểm soát: 25F3-6389, kèm theo đăng ký xe. Đối với 0,09 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của các bị cáo đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng. Các bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 14 giờ 00 phút, ngày 04/5/2024, tại bản P, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã P bắt quả tang Lừu Văn T và Lò Văn K đang tàng trữ trái phép 01 gói chất ma túy, dạng chất bột màu trắng. Lừu Văn T và Lò Văn K đều khai nhận chất bột màu trắng đó là H1 do T và K mua về để sử dụng. Qua kết quả trưng cầu giám định, xác định được: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lừu Văn T, Lò Văn K là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,15 gam.
Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo nhận thức được rõ H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Tình tiết có liên quan trong vụ án:
Về nguồn gốc ma túy, các bị cáo khai nhờ một người không rõ lai lịch mua hộ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối với anh Đèo Văn T1 là chủ công trình xây dựng nơi Lừu Văn T và Lò Văn K làm thuê. Quá trình điều tra xác định, khi đưa tiền công ứng trước cho T và K, anh T1 không biết việc T và K dùng tiền để đi mua ma túy sử dụng. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25F3-7389, thuộc sở hữu của anh Đèo Văn T1. Do anh T1 không biết việc T và K lấy xe đi mua ma túy nên anh T1 không đồng phạm với các bị cáo trong vụ án náy.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Năm 2017, bị cáo Lừu Văn T đã bị Tòa án xét xử 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáp đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật mà lại tiếp tục phạm tội.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có đồng phạm, tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: 0,09 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của các bị cáo đã được gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, Hội đồng xét xử không xem xét. Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: 0,06 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 mảnh nilon màu xanh, các vỏ niêm phong, là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25F3-6389, kèm theo giấy đăng ký xe, là tài sản
[8] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo Lừu Văn T thuộc hộ nghèo, gia đình bị cáo Lò Văn K thuộc hộ cận nghèo, các bị cáo đều xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Các bị cáo Lừu Văn T, Lò Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Lừu Văn T: 01 (Một) năm, 05 (Năm) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Lò Văn K: 01 (Một) năm, 04 (Bốn) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của hai bị cáo đều tính từ ngày các bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/5/2024.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,06 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu xanh; các vỏ niêm phong.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đèo Văn T1 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25F3-6389, kèm theo giấy đăng ký xe.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các BC tàng trữ trái phép CMT
