Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/DS-ST

Ngày: 09/7/2024

“V/v Tranh chấp về quyền sử dụng

lối đi qua bất động sản liền kề”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Phường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ánh và ông Nguyễn Thanh Minh Hiền.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07/5/2024, ngày 30/5/2024 và ngày 09/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 177/2022/TLST-DS ngày 28/4/2022, về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng lối đi qua bất động sản liền kề”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-DS ngày 09/4/2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1973;
    Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Dương Nhật Đ, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Theo văn bản ủy quyền ngày 26/11/2021.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1965;
    Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Bà Từ Thị H1, sinh năm 1971;
    • Anh Lê Minh T, sinh năm 1998;
    • Chị Lê Thị Yến T1, sinh năm 2004;
    • Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp.
    • Bà Ngô Thị B, sinh năm 1968;
    • Anh Nguyễn Tấn L, sinh năm 1993;
    • Anh Nguyễn Tấn K, sinh năm 1996;
    • Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp.

    (Anh Đ, anh L và anh K có mặt; Ông D và bà B vắng mặt không có lý do; Bà H1, anh T và chị Thanh v nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm anh Dương Nhật Đ trình bày:

Ông H có một phần đất diện tích 11.078,9m², thuộc thửa số 352, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Phần đất có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp kênh 500, phía Nam giáp đất ông D, phía Đông giáp đất ông D, phía Tây giáp đất ông N. Phần đất này ông H được cha, mẹ tặng cho lại, từ trước đến giờ cha, mẹ của ông H và sau này là ông H vẫn sử dụng bình thường, ông D cho 01 lối đi để đi vào đất. Tuy nhiên, gần đây ông D rào lại lối đi không cho ông H sử dụng lối đi cũ. Ông H có làm đơn nhờ UBND xã P giải quyết nhưng không thành. Do đây là lối đi duy nhất vào phần đất trên nên việc ông D rào lại gây rất nhiều khó khăn cho ông H. Hiện trạng phần đất không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định.

Theo đơn khởi kiện thì ông H yêu cầu Tòa án giải quyết được mở lối đi chiều ngang khoảng 03m, chiều dài 90, diện tích 270m², đất thuộc 01 phần thửa số 368 và 380, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đất do ông D đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua cho ông H được đứng tên để ông H có lối đi vào phần đất của mình tiện lợi, vì đây là lối đi duy nhất vào phần đất của ông H. Tuy nhiên, do khi làm đơn khởi kiện ông H không biết chính xác diện tích và thửa đất cụ thể yêu cầu mở lối đi nên mới yêu cầu như trên. Nay, ông H xin thay đổi yêu cầu là yêu cầu Tòa án giải quyết được mở lối đi diện tích đo đạc thực tế là 393,2m², đất thuộc 01 phần thửa số 391, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đất do ông D đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua cho ông H được đứng tên. Ông H đồng ý trả lại giá trị cho ông D theo giá thị trường đối với phần đất mở lối đi trên. Ngoài ra, ông H không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại biên bản hòa giải ông Nguyễn Văn D trình bày:

Ông không thống nhất với toàn bộ lời trình bày của phía ông H. Phần đất của ông H trước đây có nguồn gốc là của cha, mẹ ông là cụ Nguyễn Văn H2 (Đã chết) và cụ Nguyễn Thị B1 (Đã chết). Sau đó, cha, mẹ của ông mới cho gia đình ông H phần đất này. Đồng thời, phần đất của ông H tiếp giáp với anh, em ruột của ông H, lý do sao ông H không đi qua đất của anh, em mình mà bắt buộc phải yêu cầu ông mở lối đi bên phần đất của ông. Phần đất của ông thì việc ông rào là quyền của ông. Hiện nay ông H vẫn có lối đi khác qua phần đất của ông N hoặc đi bằng đường thủy kênh 500 vào phần đất của mình bình thường. Hiện trạng phần đất không có gì thay đổi so với khi Tòa án thẩm định. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hiện nay ông đã đổi sang chính quy nhưng chưa có lấy giấy đất về nhà.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông H thì ông không đồng ý theo toàn bộ yêu cầu của ông H, vì phần đất ông H có lối đi khác đi qua đất anh, em của ông H đâu nhất thiết phải đi qua đất của ông, còn phần đất của ông thì ông không đồng ý mở lối đi cho ông H mặc cho ông H có trả cho ông giá bao nhiêu. Đồng thời, từ đây về sau ông sẽ không tham gia vụ kiện này nữa. Ngoài ra, ông không còn trình bày và yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt bà Từ Thị H1, anh Lê Minh T, chị Lê Thị Yến T1 cùng trình bày:

Bà H1 là vợ của ông H, anh T và chị T1 là con của ông H. Đối với vụ án này bà H1, anh T và chị T1 giao cho ông H toàn quyền quyết định, bản thân bà H1, anh T và chị T1 không có yêu cầu gì. Đồng thời, do hiện nay bà H1, anh T và chị T1 bận đi làm ăn xa nên không thể tham gia vụ án này được. Nay, bà H1, anh T và chị T1 làm đơn này xin Tòa án cho bà H1, anh T và chị T1 được vắng mặt trong các buổi làm việc, đối chất, hòa giải và các phiên xét xử của vụ án này. Bà H1, anh T và chị T1 đồng ý với kết quả giải quyết của Tòa án và cam đoan sẽ không khiếu nại về sau.

* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm anh Nguyễn Tấn L trình bày:

Anh là con của ông D, anh thống nhất theo toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông D. Đối với phần đất do ông D đứng tên và các tài sản có trên đất là tài sản của ông D và bà B, anh không có công sức đóng góp, cải tạo gì đối với các tài sản trên. Gia đình anh không đồng ý để cho ông H mở lối đi qua phần đất của gia đình anh, vì ông H còn có lối đi khác qua đất của anh, em ông H. Theo như anh được biết thì ông D đã bỏ công ra múc đất lên liếp chi phí khoảng 5.000.000 đồng/1.000m2, giá trị cây Mít Thái tại địa phương khoảng 500.000 đồng/cây, giá trị phần đất tại phương khoảng 240.000.000 đồng/1.000m². Đối với vụ án này bản thân anh không có yêu cầu gì. Ngoài ra, anh không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Theo ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm anh Nguyễn Tấn K trình bày:

Anh là con của ông D, anh thống nhất theo toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của ông D và anh L. Đối với vụ án này bản thân anh không có yêu cầu gì. Ngoài ra, anh không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Đối với bà B mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa sơ thẩm và cũng không có văn bản ý kiến gì.

* Ý kiến và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:

- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 254 của Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • + Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H. Công nhận cho ông H lối đi có diện tích ngang 03m, tổng diện tích đo đạc thực tế là 393,2m² (Trong phạm vi các mốc M14, M15, M16, M18, M19, M17, M13 trở về mốc M14), thuộc 01 phần thửa số 391, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
  • + Ông H, ông D, bà B, anh L, anh K có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký, điều chỉnh để được cấp giấy theo quy định của pháp luật.
  • + Ông H phải có trách nhiệm trả cho hộ ông D gồm ông D, bà B, anh L, anh K giá trị đất là 94.368.000 đồng + 22.000.000 đồng tiền 44 cây Mít + 2.500.000 đồng tiền chi phí thuê K1 để liên liếp trồng Mít, tổng cộng là 118.868.000 đồng.
  • + Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nguyên đơn tự nguyện nộp và đã nộp xong.
  • + Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất: Về nguồn gốc đất và các tài liệu, chứng cứ trong vụ án.

* Các tình tiết mà các bên đương sự không thống nhất: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật: Ông H yêu cầu Tòa án giải quyết được mở lối đi diện tích đo đạc thực tế là 393,2m², đất thuộc 01 phần thửa số 391, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đất do ông D đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua cho ông H được đứng tên. Ông H đồng ý trả lại giá trị cho ông D theo giá thị trường đối với phần đất mở lối đi trên. Ngoài ra, các đương sự không ai có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về quyền sử dụng lối đi qua bất động sản liền” theo quy định tại Điều 254 của Bộ luật dân sự.

[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Phần đất đang tranh chấp tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về tố tụng:

  • - Theo quyết định tạm ngưng phiên tòa thì Hội thẩm nhân dân là ông Lê Văn V và ông Nguyễn Thanh Minh H3. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm do ông V bận đi công việc đột xuất nên không thể tham gia phiên tòa thay thế bằng ông Nguyễn Văn Á là Hội thẩm nhân dân dự khuyết. Đương sự có mặt thống nhất đồng ý việc thay đổi này và không có khiếu nại gì. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
  • - Đối với ông D và bà B vắng không có lý do chính đáng. Đối với bà H1, anh T và chị Thanh v nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Đối với ông H có phần đất diện tích đo đạc thực tế là 11.031,7m², thuộc thửa số 352, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Đối với ông D có diện tích đo đạc thực tế là 4.142,8m², thuộc thửa số 391, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Xét thấy, phần đất trên của ông H có vị trí tứ cận là phía Bắc giáp kênh 500, phía Nam giáp thửa đất trên của ông D, phía Đông giáp phần đất khác của ông D và bà H4, phía Tây giáp đất ông N. Như vậy, phần đất của ông H nằm ở giữa 03 phía là giáp đất của người khác, chỉ có phía Bắc giáp kênh 500 và con kênh này không có đường dẫn ra lối đi công cộng. Do đó, có đủ cơ sở xác định phần đất này của ông H bị vây bọc bởi các phần đất khác của các chủ sở hữu khác và không có lối đi ra đường công cộng. Đồng thời, ông H và ông D đều thống nhất trình bày từ trước đến khi phát sinh tranh chấp thì ông D vẫn cho ông H đi nhờ qua phần đất của ông D bằng 01 lối đi khác. Theo lối đi này thì cắt phần đất còn lại của ông D ra làm hai sẽ làm giảm trị đất của ông D và gây sự bất tiện khi sử dụng. Do đó, lối đi thuận tiện và tránh gây thiệt hại nhất cho ông D chính là theo đường mà ông H yêu cầu. Đồng thời, đây cũng là con đường ngắn nhất nối liền với thửa đất khác của ông H để đi ra đường công cộng. Do ông H được hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù bằng 01 số tiền lại cho ông D. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H đồng ý lấy giá 240.000.000 đồng/1.000m² do anh L và anh K đưa ra để làm căn cứ giải quyết trong vụ án này. Xét thấy, theo giá trên thì cao hơn nhiều so với giá Hội đồng định giá đã định là 75.000 đồng/m² và theo hướng có lợi cho ông D. Do đó, Hội đồng xét xử xác định giá trị đất là 240.000 đồng/m2 và số tiền mà ông H phải trả lại cho ông D, cụ thể: 393,2m² x 240.000 đồng/m² = 94.368.000 đồng.

- Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với tiền cải tạo đất các đương sự đều thống nhất việc cải đất do ông D thực hiện, cụ thể chi phí thuê Kobe múc đất lên liếp. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L và anh K trình bày chi phí thuê Kobe múc đất lên liếp là 5.000.000 đồng/1.000m² (Tương đương là 5.000 đồng/m²), phía ông H cũng thống nhất giá này. Như vậy, ông H được hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù bằng 01 số tiền lại cho ông D, cụ thể: 393,2m² x 5.000 đồng/m²= 1.966.000 đồng. Phía ông H tự nguyện trả lại cho ông D là 2.500.000 đồng tiền chi phí trên và trả thêm 7.500.000 đồng tiền công cải tạo đất. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của ông H không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật và theo hướng có lợi cho ông D nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.

[6] Đối với cây trồng có trên phần mở lối đi các đương sự đều thống nhất do ông D trồng và hiện nay có 44 cây Mít Thái. Theo biên bản định giá của Hội đồng định giá thì giá Mít là 200.000 đồng/cây. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L và anh K trình bày giá trị cây Mít Thái hiện nay là 500.000 đồng/cây, phía ông H cũng thống nhất giá này. Như vậy, ông H được hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù bằng 01 số tiền lại cho ông D, cụ thể: 44 cây x 500.000 đồng/cây = 22.000.000 đồng. Đồng thời, ông H được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng 44 cây Mít Thái sau khi đã đền bù số tiền trên cho ông D.

[7] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[8] Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự có mặt xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự có mặt không còn chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.

[9] Về chi phí tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng trong vụ án này và tổng chi phí trên là 25.000.000 đồng. Đồng thời, ông H đã tạm ứng trước và đã chi xong.

[10] Về án phí:

  • - Ông H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • - Ông D không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[11] Về ý kiến và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:

- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ, nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

- Về đề nghị nội dung vụ án giải quyết vụ án thì từ những phân tích trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 203 của Luật đất đai; Điều 254 của Bộ luật dân sự; Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 235, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H. Ông H được quyền sử dụng đất (Đất chuyên trồng lúa nước) diện tích đo đạc thực tế là 393,2m², trong phạm vi các mốc M13, M14, M15, M16, M18, M19, M17 trở về mốc M3, thuộc 01 phần thửa số 391, tờ bản đồ số 08, tọa lạc ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn D vào ngày 12/11/2020.
    • - Kiến nghị Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Tỉnh Đ thu hồi phần diện tích đất trên của ông D để cấp quyền sử dụng đất lại cho ông H.
    • - Ông H và ông D được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng đất và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
    • - Ông H phải có nghĩa vụ trả lại cho ông D số tiền giá trị đất là 94.368.000 đồng (Chín mươi bốn triệu, ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
    • - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

    (Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2023 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 30/6/2023 của Công ty TNHH D1).

  2. Về công cải tạo đất và cây trồng có trên đất:
    • - Ông H được quyền sở hữu, sử dụng 44 cây Mít Thái theo như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/02/2023 của Tòa án; Sơ đồ đo đạc ngày 30/6/2023 của Công ty TNHH D1 nằm trên phần diện tích được chấp nhận.
    • - Ông H phải có nghĩa vụ trả lại cho ông D số tiền công cải tạo đất là 10.000.000 đồng và giá trị 44 cây Mít Thái là 22.000.000 đồng, tổng cộng là 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng).
    • - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông H tự nguyện chịu 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá và ông H đã nộp xong.
  4. Về án phí:
    • - Ông H phải chịu 6.318.000 đồng (Sáu triệu, ba trăm mười tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 439.000 đồng (Bốn trăm ba mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007680, ngày 01/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Ông H phải nộp tiếp 5.879.000 đồng (Năm triệu, tám trăm bảy mươi chín nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Ông D không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND Huyện;
  • - CCTHADS Huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án: (Jet).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Phường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về quyền sử dụng lối đi qua bất động sản liền kề

  • Số bản án: 104/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng lối đi qua bất động sản liền kề
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger