|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2024/DS-ST Ngày: 08/7/2024 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Liên
2. Bà Nguyễn Thị Bạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 848/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa:
* Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim T – Sinh năm: 1959
Địa chỉ: Số 1 đường N, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Kim T: Ông Nguyễn Thanh T1 – Sinh năm: 1973 (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
* Bị đơn: Bà Bùi Thị Kim L – Sinh năm: 1978
Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Kim T và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh T1 trình bày:
Bà Lê Thị Kim T không có mối quan hệ quen biết với bà Bùi Thị Kim L, do bạn bè xã hội giới thiệu cho bà Bùi Thị Kim L vay tiền của bà Lê Thị Kim T, nên bà Lê Thị Kim T biết bà Bùi Thị Kim L.
Ngày 25/02/2022, bà Lê Thị Kim T có ký hợp đồng cho bà Bùi Thị Kim L vay 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng), phương thức cho vay bằng tiền mặt, thời hạn vay 60 ngày kể từ ngày hợp đồng vay tiền được công chứng, lãi suất theo thỏa thuận miệng bên ngoài hợp đồng là 1,6%/1 tháng. Hợp đồng vay tiền được công chứng ngày 25/02/2022 tại Văn phòng C số công chứng 004151, quyển số 02/2022 T P/CC-SCC/HĐGD.
Tuy nhiên, quá thời hạn vay tiền mà bà Bùi Thị Kim L không trả tiền lãi, không trả lại tiền vay gốc cho bà Lê Thị Kim T. Bà T đã nhiều lần yêu cầu bà L trả lại tiền cho bà T mà bà L không trả.
Nay bà Lê Thị Kim T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Bùi Thị Kim L phải trả cho bà T số tiền gốc 2.500.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn từ ngày 25/02/2022 đến ngày 25/4/2022 là 80.000.000 đồng, tiền lãi từ ngày 25/4/2022 đến ngày 09/11/2023 là 1.198.166.000 đồng và tiền lãi kể từ ngày Tòa tuyên án có hiệu lực cho đến ngày bà L trả hết số tiền nợ.
* Bị đơn bà Bùi Thị Kim L: Ngày 17/01/2024, bị đơn bà Bùi Thị Kim L có đến Toà án làm việc, bà L viết bản tự khai nhưng bà L không ký bản tự khai và bỏ về. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà L không đến Toà án làm việc. Bà L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng cố tình không hợp tác làm việc, vắng mặt tham gia tố tụng nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến như sau: Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 159, Điều 161, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim T. Buộc bà Bùi Thị Kim L có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Kim T số tiền nợ gốc là 2.500.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Lê Thị Kim T khởi kiện bị đơn bà Bùi Thị Kim L – địa chỉ: Tổ dân phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Bùi Thị Kim L phải trả cho bà Lê Thị Kim T số tiền gốc là 2.500.000.000 đồng.
Hợp đồng cho vay tiền được công chứng tại Văn phòng C ngày 25/02/2022 số công chứng 004151, quyển số 02/2022 T P/CC-SCC/HĐGD. Nội dung Hợp đồng cho vay tiền số tiền 2.500.000.000 đồng, thời hạn vay 60 ngày kể từ ngày hợp đồng được chứng nhận, phương thức cho vay bằng tiền mặt, việc giao nhận tiền do hai bên tự thực hiện, lãi suất tự thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật.
Ngày 17/01/2024, bị đơn bà Bùi Thị Kim L có đến Toà án làm việc, bà L viết bản tự khai, nội dung thừa nhận có mối quan hệ quen biết với bà Lê Thị Kim T nên ngày 25/02/2022 bà L có ký Hợp đồng cho vay tiền với bà T, vay số tiền 2.500.000.000 đồng của bà T, thời hạn vay 60 ngày kể từ ngày công chứng hợp đồng vay tiền. Các bên thỏa thuận lãi suất ngoài hợp đồng là 1,6%/1 tháng. Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà L phải trả số tiền gốc 2.500.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn từ ngày 25/02/2022 đến ngày 25/4/2022 là 80.000.000 đồng, tiền lãi từ ngày 25/4/2022 đến ngày 09/11/2023 với lãi suất 2,6%/1 tháng là 1.198.166.000 đồng thì bà L đồng ý trả số tiền gốc 2.500.000.000 đồng và bà T có thỏa thuận không yêu cầu tiền lãi suất. Việc bà L không đến Toà án làm việc là bà L đã tự mình từ chối việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình tại Toà án.
Do đó có đủ căn cứ xác định bà Bùi Thị Kim L có vay bà Lê Thị Kim T số tiền gốc là 2.500.000.000 đồng và thời hạn vay là 60 ngày, kể từ ngày công chứng hợp đồng vay tiền ngày 25/02/2022. Tuy nhiên, đến nay bà L vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền gốc, lãi cho bà T là vi phạm hợp đồng nên cần buộc bà L phải có trách nhiệm trả cho bà T số tiền gốc là 2.500.000.000 đồng là phù hợp.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Kim T về việc yêu cầu bị đơn bà Bùi Thị Kim L phải trả tiền lãi. Trong Hợp đồng cho vay tiền công chứng ngày 25/02/2022 tại Văn phòng C số công chứng 004151, quyển số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ghi các bên tự thỏa thuận lãi suất. Nguyên đơn cho rằng các đương sự thỏa thuận lãi suất là 1,6%/1 tháng, bị đơn không có lời khai nên không xác định được lãi suất các đương sự thỏa thuận là bao nhiêu thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy tiền lãi được tính như sau:
Tiền lãi trong hạn kể từ ngày 25/02/2022 đến ngày 25/04/2022:
2.500.000.000 đồng x 10%/1 năm x 60 ngày= 41.666.000 đồng.
Tiền lãi quá hạn kể từ ngày 26/4/2022 đến ngày xét xử ngày 08/7/2024 là 02 năm 02 tháng 12 ngày là 150% lãi trong hạn là 15%/1 năm: 2.500.000.000 đồng x 15%/1 năm x 02 năm 02 tháng 12 ngày = 825.000.000 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn như sau: Buộc bị đơn bà L phải trả cho bà T tiền lãi trong hạn là 41.666.000 đồng và tiền lãi quá hạn tính từ ngày 26/4/2022 đến ngày xét xử là 825.000.000 đồng và tiếp tục tính lãi cho đến khi bà L trả hết nợ cho bà T.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 99.333.000 đồng. Nguyên đơn bà Lê Thị Kim T phải chịu 20.460.000 đồng án phí dân sự đối với phần yêu cầu tiền lãi không được chấp nhận, tuy nhiên bà T là người cao tuổi (trên 60 tuổi) và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên bà T được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Kim T.
Buộc bà Bùi Thị Kim L có nghĩa vụ phải trả cho bà Lê Thị Kim T số tiền 3.366.666.000 đồng (Ba tỷ ba trăm sáu mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn đồng), trong đó tiền nợ gốc là 2.500.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm triệu đồng), tiền nợ lãi là 866.666.000 đồng (Tám trăm sáu mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Không chấp nhận đối với yêu cầu của bà Lê Thị Kim T về việc buộc bị đơn bà Bùi Thị Kim L phải trả khoản tiền lãi là 411.500.000 đồng.
Về án phí: Bị đơn bà Bùi Thị Kim L phải chịu 99.333.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn bà Lê Thị Kim T là người cao tuổi (trên 60 tuổi) và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 104/2024/DS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 104/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Kim T tranh chấp hợp đồng vay tài sản Bùi Thị Kim L
