|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2024/HS-ST Ngày 07-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Quỳnh Như.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh T
Bà Phạm Thị Kim Thu
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Khiêm - Thư ký Toà án nhân dân
quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 10/TB-TA ngày 31/7/2024 đối với bị cáo:
Phạm Thị T, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1963 tại Hải Phòng. Nơi ĐKNKTT: Số 2/90 đường V, phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số 2 đường Đ, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 1/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Hoàng Thị N (đều đã chết); bị cáo có chồng là Đào Văn L (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 09/01/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 04/01/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an quận Hồng Bàng làm nhiệm vụ tại khu vực đường nam C, Sở Dầu, Hồng Bàng, Hải Phòng phát hiện Phạm Thị T có biểu hiện nghi vấn về ma tuý. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ tại túi quần trái phía trước của T 06 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng nghi ma tuý (mẫu QT), 08 mảnh giấy, số tiền 1.130.000 đồng, 01 điện thoại di động và 01 xe mô tô. Tổ công tác đã đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Sở Dầu lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở hiện tại của Phạm Thị T không phát hiện thu giữ đồ vật gì có liên quan.
Tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Phạm Thị T âm tính với các chất ma tuý.
Tại bản Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 06 gói giấy trắng chứa chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Thị T gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,77 gam, loại Heroine.
Tiến hành trưng cầu giám định, trích xuất thông tin trên điện thoại thu của Phạm Thị T không phát hiện cuộc gọi, tin nhắn nào liên quan đến việc mua bán trái phép ma tuý.
Phạm Thị T khai nhận: Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên T nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho người nghiện kiếm lời. Chiều ngày 31/12/2023, T một mình đi đến khu vực đường tàu Cầu Quay mua của một người nữ giới không quen biết 500.000 đồng được 01 túi nilon bên trong chứa ma túy Heroine và về nhà dùng dao lam chia nhỏ thành 06 phần, gói lại bằng các mảnh giấy, mục đích sẽ bán với giá 100.000 đồng/01 gói. Nếu bán hết số ma túy trên thì T thu về được 600.000 đồng và sẽ hưởng lợi 100.000 đồng. Sau khi chia xong T cho ma túy vào vỏ bao thuốc lá rồi cất giấu ngoài vỉa hè gần nhà để tránh bị phát hiện và vứt dao lam đi. Đến khoảng 13h30 ngày 04/01/2023, T lấy 06 gói ma túy trên cất giấu vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực đường nam C, phường Sở Dầu, Hồng Bàng, Hải Phòng để bán cho người nghiện nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt giữ như nội dung trên.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì thư dán kín trong chứa số ma túy còn lại sau giám định; 08 mảnh giấy; 01 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng và số tiền 1.130.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng.
Đối với xe mô tô, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Đào Hùng M (con trai của T). T mượn xe của anh M nhưng không nói cho anh M biết việc sử dụng xe để mua bán ma tuý nên Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe trên cho anh M.
Tại Cáo trạng số 68/CT-VKSHB, ngày 24/6/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phạm Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phạm Thị T từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- + Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định; các mảnh giấy.
- + Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động.
Trả lại bị cáo số tiền 1.130.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không có quan điểm tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát, phần lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như nội dung đã nêu trên. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám xét khẩn cấp, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/01/2024 tại khu vực đường nam C, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, bị cáo Phạm Thị T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,77 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích bán cho người nghiện để hưởng lợi nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan công an phát hiện bắt quả tang. Hành vi trên của Phạm Thị T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo T có hành vi cất giấu trái phép 0,77 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích bán cho người nghiện để hưởng lợi nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm Luật Phòng, chống ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác gây mất trật tự an T xã hội. Đây là tệ nạn xã hội gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân nên phải xem xét, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
[5] Về nhân thân: Nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Về hình phạt:
[8.1] Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mục đích của hình phạt, nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội. Xét thấy, cần xử phạt bị cáo mức án trên khởi điểm của khung hình phạt nhưng thấp hơn mức án mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đề nghị đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật.
[8.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo có công việc thu nhập không ổn định, không có căn cứ xác định bị cáo có tài sản riêng. Bị cáo chưa được thu lợi từ việc bán trái phép chất ma túy. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát là có cơ sở.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[9] Tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy còn lại sau giám định do là vật cấm, liên quan đến hành vi phạm tội. Tiêu hủy đối với 08 mảnh giấy kích thước 5x5cm do liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
[10] Trả lại bị cáo:
- - Số tiền 1.130.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án về án phí mà bị cáo phải nộp;
- - Điện thoại di động do bị cáo không dùng để liên lạc phạm tội.
[11] Về những nội dung khác có liên quan đến vụ án: Đối với người nữ giới bán ma túy cho Phạm Thị T tại khu vực đường tàu Cầu Quay, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
[12] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, có đề nghị xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[13] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố
bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
Phạm Thị T 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (Một) phong bì thư dán kín trong có T bộ mẫu vật ma túy còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 18 MT/PC 09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an thành phố Hải Phòng;
- - 08 mảnh giấy kích thước 5x 5cm;
+ Trả lại bị cáo:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Flilo, trên vỏ in chữ Samsung màu tím (đã qua sử dụng) có số IMEI 1: 350270158679345, số IMEI 2: 350270158679352, số IMEI 3: 350270158679360 kèm 01 SIM in dãy số 89840200010714133709.
- - Số tiền 1.130.000 (Một triệu, một trăm ba mươi nghìn) đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với nghĩa vụ chịu án phí của bị cáo. (Thể hiện tại Biên lai thu tiền số 0002635 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận giữa Công an quận Hồng Bàng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng ngày 21/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng và Biên lai thu tiền số 0002635 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng).
- Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Biểu quyết: 3/3=100%
Kết quả biểu quyết: Đồng ý 3/3 = 100%
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Thị Quỳnh Như |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh Như |
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự (sơ thẩm) về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Sơ thẩm) về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Phạm Thị Toàn - Mua bán trái phép chất ma túy
