|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI Bản án số: 104/2024/HSST Ngày: 07/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Quách Đình Hoằng
Bà R’Com Myư
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2024/TLST – HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H
T gọi khác: Không; sinh ngày 19 tháng 3 năm 1985 tại Hà Tĩnh;
Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, (Đã chết) và bà Phan Thị B, sinh năm 1949; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Mai T2, sinh năm 1987 và có ba con lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/12/2023, hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Phan Công N, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn A, Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn T, huyện E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe hạng C và làm nghề phụ xe khách. Vào khoảng cuối năm 2018, thông qua mạng xã hội Facebook, H thấy có 01 tài khoản (không rõ tên) có đăng bài nhận làm giấy tờ, bằng lái xe. Do muốn có giấy phép lái xe hạng E để xin việc nên H đã liên hệ tài khoản trên để đặt làm 01 giấy phép lái xe hạng E. Qua trao đổi, chủ tài khoản trang facebook này yêu cầu H cung cấp hình ảnh 01 giấy phép lái xe hạng E để làm mẫu và chi phí là 8.000.000 đồng. Do thấy anh Phan Công N (sinh năm 1985, trú tại: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) cùng phụ xe với H có nói với H anh N đã thi đậu và được cấp Giấy phép lái xe hạng E nên H nảy sinh ý định mượn bằng lái xe hạng E của anh N để chụp lại làm mẫu rồi gửi cho chủ trang trang Facebook này. Sau đó, khi H ngồi uống nước với anh N thì H đã hỏi mượn giấy phép lái xe hạng E và chứng minh nhân dân của anh N để xem thì anh N đã đưa cho H và H đã dùng điện thoại chụp hình ảnh giấy phép lái xe, chứng minh nhân dân của anh N cùng với hình ảnh chứng minh nhân dân của H; sau đó, H đã gửi cho chủ tài khoản trang facebook trên. Sau khi nhận được hình ảnh, chủ tài khoản trang Facebook này yêu cầu H chuyển khoản tiền chi phí và H đã chuyển số tiền 8.000.000 đồng (do thời gian lâu nên H không nhớ rõ được thời gian và số tài khoản). Khoảng 01 tuần sau, có một nhân viên giao hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) đến giao cho H 01 giấy phép lái xe số [...], hạng A1, E, tên PHAN CÔNG NAM; sinh ngày 10/4/1985, trú tại: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum); do Sở G cấp ngày 20/11/2018, có giá trị đến ngày 20/11/2023; hình ảnh trên giấy phép lái xe này là hình của H. Sau khi nhận được Giấy phép lái xe này, H để tại nhà ở Thôn D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. Đến tháng 6/2023, H dùng giấy phép lái xe hạng A1, E mang tên Phan Công N mà H đã đặt làm giả trên mạng xã hội Facebook để xin chạy xe khách cho nhà xe H3 (tuyến tại Đắk Lắk- Hà Tĩnh), do bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1978, trú tại: xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) làm chủ. Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 02/10/2023, H điều khiển xe ô tô khách biển số 47B-008.23 chạy trên đường T thuộc phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh G kiểm tra giấy tờ xe; do H không xuất trình được giấy phép lái xe phù hợp với xe đang điều khiển nên lực lượng Cảnh sát Giao thông Công an tỉnh G lập biên bản thu giữ của H, gồm: 01 giấy phép lái xe mang tên Phan Công N số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 20/11/2018, có giá trị sử dụng đến ngày 20/11/2023 và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn H. Ngày 09/10/2023, phòng C Công an tỉnh G đã chuyển toàn bộ hồ sơ và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.
Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số 943/KL-KTHS ngày 25/10/2023 của phòng K- Công an tỉnh G, kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE/DRIVER'S LICENSE" số [...]; hạng A1, E; tên PHAN CÔNG NAM; sinh ngày 10/4/1985; trú tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; do sở Sở giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 20/11/2018; có giá trị đến ngày 20/11/2023 là giả. Căn cước công dân số [...]; họ tên Nguyễn Văn H; cấp ngày 27/12/2021 do Cục trưởng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp là thật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.
Bản Cáo trạng số 107/CT-VKS ngày 22 tháng 4 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng Khoản 1 Điều 341; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án 6 tháng đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Xử lý vật chứng: Không
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Đồng thời căn cứ vào bản Kết luận giám định số 943/KL – KTHS ngày 25/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh G, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng tháng 5/2019, do muốn có giấy phép lái xe hạng A1, E để xin việc nên Nguyễn Văn H đã lên mạng xã hội Facebook vào trang nhận làm giấy tờ, bằng lái xe (không rõ chủ tài khoản) đặt làm 01 giấy phép lái xe hạng A1, E mang tên Phan Công N (sinh năm 1985, trú tại: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum) có hình ảnh của H, với giá 8.000.000 đồng. Sau khi nhận được giấy phép lái xe giả này, H đã cất giấu tại nhà ở tại Thôn D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. Đến khoảng tháng 6/2023, Nguyễn Văn H đã sử dụng giấp phép lái xe giả này để xin vào làm lái xe ô tô khách cho nhà xe H3 do bà Nguyễn Thị H1 (Sinh năm 1978, trú tại: xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) làm chủ, để chạy tuyến Đắk Lắk- Hà Tĩnh. Đến ngày 02/10/2023, H điều khiển xe ô tô khách biển số 47B-008.23 đi trên đường T thuộc phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh G kiểm tra phát hiện và đã thu giữ giấy phép lái xe số [...]; hạng A1, E; tên PHAN CÔNG NAM mà Nguyễn Văn H đã sử dụng xuất trình khi Cảnh sát giao thông kiểm tra giấy tờ. Qua giám định, xác định: Giấy phép lái xe số [...]; hạng A1, E; tên PHAN CÔNG NAM mà Nguyễn Văn H đã sử dụng xuất trình khi tham gia giao thông là giả.
Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện đó là lỗi cố ý, hành vi thuê người khác làm giả giấy phép lái xe ô tô số [...] rồi sử dụng giấy phép lái xe giả này để xuất trình với cơ quan chức năng khi bị kiểm tra do bị cáo H thực hiện như đã nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Đây là vụ án “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, hành vi của bị cáo được xác định là tội phạm ít nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, xâm phạm an toàn công cộng, xâm phạm trật tư trị an xã hội.
[4] Để có mức án thỏa đáng, ngoài việc xem xét, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt cụ thể:
Về nhân thân: Tại bản án số 158/2019/HS- PT ngày 29/11/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 14 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã được xoá án tích.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có cha là thương binh hạng 4/4, hoàn cảnh gia đình khó khăn là trụ cột chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự; căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Bị cáo Nguyễn Văn H đã bị xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng đã được xóa án tích; bị cáo H có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (trong đó có 01 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Xét thấy bị cáo H có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Xét mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét thấy bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn nên HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng: Đối với Căn cước công dân số [...]; họ tên Nguyễn Văn H; cấp ngày 27/12/2021 do Cục trưởng cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp là của Nguyễn Văn H, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại cho Nguyễn Văn H. Đối với giấy phép lái xe số [...]; hạng A1, E; tên PHAN CÔNG NAM; sinh ngày 10/4/1985; trú tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; do Sở giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 20/11/2018, có giá trị đến ngày 20/11/2023, hình ảnh trên giấy phép lái xe là hình ảnh của Nguyễn Văn H, qua giám định xác định là giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku lưu giữ tại hồ sơ vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với chiếc điện thoại mà bị cáo H đã sử dụng lên mạng xã hội Facebook đặt làm giấy phép lái xe ô tô giả, sau đó H đã làm mất (không rõ ở đâu) nên Cơ quan điều tra không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Đối với chủ tài khoản trang Facebook mà H đã nhập vào đặt mua giấy đăng ký xe ô tô giả, do H không nhớ được tên tài khoản nên không xác định được ai là người đã nhận làm giấy đăng ký xe ô tô giả cho H. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Phan Công N là người cho Nguyễn Văn H mượn xem giấy phép lái xe hạng A1, E cùng chứng minh nhân dân, qua điều tra xác định: Vì Nguyễn Văn H là người quen nên anh N cho H mượn xem giấy phép lái xe cùng chứng minh nhân dân; anh N không biết H đã dùng điện thoại chụp lại rồi làm thông tin để làm giấy phép lái xe giả. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không có căn cứ để xử lý. Đối với bà Nguyễn Thị H1 (là chủ hãng xe Hằng H2), khi ký hợp đồng và trong thời gian Nguyễn Văn H chạy xe tuyến Đắk Lắk- Hà Tĩnh cho hãng xe thì bà H1 không biết H sử dụng giấy phép lái xe giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không có căn cứ để xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 9 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 1 (Một) năm 6 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 07/6/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thắm |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Quách Đình Hoằng | R’Com Myư | Nguyễn Thị Hồng Thắm |
Bản án số 104/2024/HSST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về hình sự: sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 104/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
