Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HSST

Ngày: 17/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Văn.

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên.

Bà Vũ Thị Minh Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Tiến Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 17/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/HSST ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXX-TA ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Kiều Quang T, sinh năm 1989; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT: thôn T, xã Đ, huyện Ứ, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Bố đẻ: Kiều Văn H, sinh năm 1957; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1956; A, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không. D chỉ bản số 925 lập ngày 04/12/2023 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03/12/2023, hiện tại đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 – Công an T4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1984; địa chỉ: số D T, phường T, quận H, TP. Hà Nội. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1956; HKTT: xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. có mặt
  2. Anh Lê Anh M, sinh năm 1986; HKTT: Tổ B, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt
  3. Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (Ngân hàng V); trụ sở: Tòa nhà S, số A P, Phường B, Quận A, Hồ Chí Minh. Vắng mặt
  4. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1987; HKTT: xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 10/2020, bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1956, hộ khẩu thường trú: xã Đ, huyện Ứ, TP Hà Nội có mua 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, sơn màu đen, BKS 29E-015.51, giấy đăng ký xe mang tên bà Nguyễn Thị B, mua xe dưới hình thức vay trả góp, thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (gọi tắt là Ngân hàng V), Ngân hàng giữ giấy đăng ký xe ô tô bản chính, bà B được quyền sử dụng chiếc xe ôtô trên, hàng tháng trả gốc và lãi theo hợp đồng. Quá trình sử dụng, bà B giao chiếc xe ôtô BKS 29E-015.51 trên cho con trai là Kiều Quang T, sinh năm 1989, HKTT: xã Đ, huyện Ứ, TP Hà Nội quản lý và sử dụng để kinh doanh vận tải. T có trách nhiệm đóng tiền gốc và lãi hàng tháng cho Ngân hàng V.

Do cần tiền chi tiêu cá nhân, khoảng tháng 11/2021, Kiều Quang T đã mang chiếc xe ôtô BKS 29E-015.51 đến gặp anh Lê Anh M, sinh năm 1986, HKTT: Tổ B, phường Y, quận H, TP. Hà Nội thỏa thuận cầm cố chiếc xe cho anh M để vay tiền, T nói với anh M chiếc xe ô tô BKS 29E-015.51 là xe của T, giấy đăng ký xe hiện đang thế chấp ở chỗ khác, anh M cho T vay số tiền 50.000.000 đồng, T bàn giao lại cho anh M chiếc xe ôtô BKS 29E-015.51 để làm tin. Khoảng 03 ngày sau, T tiếp tục đến gặp anh M hỏi vay thêm tiền thì anh M trao đổi muốn vay thêm tiền thì phải mang cả đăng ký xe bản gốc đến đặt làm tin.

Do cần tiền chi tiêu cá nhân, khoảng cuối tháng 11/2021 T đã lên mạng xã hội Facebook đặt làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu sơn Đen, BKS 29E-015.51 mang tên Kiều Quang T, rồi mang đến cho anh M xem và nói với anh M là giấy đăng ký xe bản gốc của T muốn đặt cùng xe ôtô để vay thêm tiền của anh M. Do tin tưởng chiếc xe ô tô BKS: 29E-015.51 và giấy đăng ký xe ô tô là của T nên anh M đã cho T vay thêm tiền nhiều lần. Tổng số tiền T vay anh M là 300.000.000 đồng, toàn bộ số tiền T đã chi tiêu cá nhân hết.

Do cần thêm tiền chi tiêu cá nhân, khoảng đầu tháng 01/2022 T tiếp tục liên hệ với anh Nguyễn Tuấn A, SN 1984, HKTT: phường T, quận H, TP. Hà Nội, T nói dối anh Tuấn A là T có 01 chiếc xe ô tô BKS: 29E-015.51 đăng ký chính chủ mang tên Kiều Quang T đang cầm cố cho anh Lê Anh M, nay muốn cầm cố cho anh Tuấn A để vay tiền trả cho của anh M và chi tiêu cá nhân, anh Tuấn A đồng ý và cùng đi xem xe với T. Ngày 15/01/2022, anh Nguyễn Tuấn A đi cùng anh Trần Bá L (SN: 1981, HKTT: số F T, phường L, quận H, Hà Nội – là bạn anh Nguyễn Anh T1) và Kiều Quang T đến gặp anh Lê Anh M tại tổ B, phường Y, quận H, Hà Nội để kiểm tra xe. Sau khi kiểm tra thực tế chiếc xe ô tô BKS 29E-015.51 và đối chiếu với giấy đăng ký xe số 733577 mang tên Kiều Quang T do T cung cấp, anh Tuấn A đã tin tưởng và đồng ý nhận cầm cố chiếc xe ô tô BKS 29E-015.51 cùng giấy đăng ký xe số 733577 “giả” mang tên Kiều Quang T trong thời hạn 01 tháng để cho T vay số tiền 343.000.000 đồng, nếu sau 01 tháng kể từ thời điểm vay mà T không trả được tiền cho anh Nguyễn Tuấn A thì hai bên thỏa thuận T sẽ bán chiếc xe ô tô BKS: 29E-015.51 cho anh Nguyễn Tuấn A với giá 400.000.000 đồng. Cùng ngày 15/01/2022, anh Nguyễn Tuấn A đã sử dụng tài khoản số 19035850972019 tại Ngân hàng T5 mang tên chị Lê Thị Vân A1 (SN: 1998, HKTT: xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An) chuyển số tiền 300.000.000 đồng đến tài khoản số 19033838856019 tại Ngân hàng T5 mang tên anh Lê Anh M theo yêu cầu của Kiều Quang T, để T trả nợ cho anh M. Sau khi nhận được tiền, anh M đã bàn giao chiếc xe ô tô BKS 29E-015.51 cho Kiều Quang T. Sau đó, anh Tuấn A và Kiều Quang T cùng nhau đi đến chung cư H, địa chỉ số H T, phường T, quận H, TP Hà Nội để lập trước hợp đồng mua bán chiếc xe ô tô BKS: 29E-015.51 theo thỏa thuận nêu trên. Sau khi hai bên ký hợp đồng xong, anh Tuấn A tiếp tục dùng tài khoản số 19035850972019 tại Ngân hàng T5 mang tên chị Lê Thị Vân A1 chuyển khoản số tiền 43.000.000 đồng đến số tài khoản 19035273920012 tại Ngân hàng T5 mang tên Kiều Quang T cho T. Tổng số tiền anh Nguyễn Tuấn A chuyển cho Kiều Quang T là 343.000.000 đồng, số tiền còn lại anh Tuấn A sẽ trả cho T sau khi hoàn tất thủ tục sang tên đổi chủ chiếc xe ô tô BKS 29E-015.51. Sau khi nhận tiền, Kiều Quang T đã giao cho anh Tuấn A chiếc xe ô tô BKS: 29E-015.51, giấy đăng ký xe “giả” số 733577 mang tên Kiều Quang T và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Toàn bộ quá trình cầm cố xe cho anh Lê Anh M và bán chiếc xe của bà Nguyễn Thị B cho anh Nguyễn Tuấn A, Kiều Quang T đều không thông báo cho mẹ mình là bà Nguyễn Thị B và Ngân hàng V biết.

Sau đó, Kiều Quang T không trả tiền gốc lãi hàng tháng cho Ngân hàng V và cũng không trả tiền cho anh Nguyễn Tuấn A. Đến ngày 28/4/2022, anh Nguyễn Tuấn A cho bạn là Đặng Văn B1, SN 1988, HKTT: xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang mượn chiếc xe ô tô BKS: 29E-015.51 để đi ăn cưới tại thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang thì bị nhân viên Ngân hàng V thu hồi chiếc xe ô tô BKS 29E-015.51 trên để phát mại, xử lý nợ xấu. Sau đó, anh Nguyễn Tuấn A đã liên hệ với Kiều Quang T để thông báo nội dung sự việc trên thì T nói dối sẽ trả lại tiền cho anh Tuấn A. Sau đó, Kiều Quang T đã cắt liên lạc và không trả tiền cho anh Nguyễn Tuấn A

Ngày 21/8/2022, anh Nguyễn Tuấn A đã có đơn trình báo đến Công an quận H, sau chuyển Cơ quan CSĐT Công an quận H để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng của vụ án đã tạm giữ gồm:

  1. 01 “Chứng nhận đăng ký xe ô tô” số 733577, tên chủ xe: Kiều Quang Tn, biển số đăng ký: 29E-015.51 (bản chính); 01 “Giấy chứng nhận kiểm định”, No: KD4423439 của xe ô tô Toyota Vios, BKS: 29E-015.51 (bản sao) do anh Nguyễn Tuấn A giao nộp.

Ngày 29/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 595 trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ C giám định đối với 01 giấy đăng ký xe mang tên “Kiều Quang Tuấn” nghi giả nêu trên. Tại Bản kết luận giám định số 6552/KL-KTHS ngày 30/12/2022 của V1 Bộ C kết luận: “(1) Mẫu in, hình dấu trên Chứng nhận đăng ký xe ô tô cần giám định là mẫu in, hình dấu giả bằng phương pháp in laser; (2) Chữ ký đứng tên Đinh Thanh T2 trên mẫu cần giám định so với chữ ký của Đinh Thanh T2 trên mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra".

Cáo trạng số 63/CT-VKS-HĐ ngày 29/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Kiều Quang T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”“Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 và khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt Kiều Quang T từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; từ 06 đến 09 tháng tù về tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 09 năm đến 09 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, bà Nguyễn Thị B, anh Lê Anh M không bị thiệt hại và không yêu cầu đề nghị gì nên nghị không xét. Anh Nguyễn Văn N tự nguyện bồi thường thay bị cáo và không yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền đã bồi thường cho bị hại.

Bị hại anh Nguyễn Tuấn A đã được gia đình bị cáo T bồi thường 195.000.000 đồng và không yêu cầu Kiều Quang T phải bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu lưu hồ sơ 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 733577, tên chủ xe: Kiều Quang T, biển số đăng ký: 29E-015.51.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng hình phạt nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Có đủ căn cứ xác định: Kiều Quang T được bà Nguyễn Thị B (là Mẹ đẻ T) giao cho sử dụng chiếc xe ôtô nhãn hiệu Toyota Vios, màu sơn Đen, BKS: 29E-015.51, số khung: R14B28F31L5093770, số máy: 2NRX612629 (chiếc xe đã được cầm cố tại Ngân hàng V).

Do cần tiền xài cá nhân và trả nợ, ngày 15/01/2022 tại phường Y, quận H, TP. Hà Nội, Kiều Quang T đã làm giả 01 giấy đăng ký xe ô tô số 733577 mang tên Kiều Quang T của chiếc ôtô nhãn hiệu Toyota Vios, màu sơn Đen, BKS 29E-015.51 và mang chiếc xe cầm cố, bán cho anh Nguyễn Tuấn A, lấy số tiền 343.000.000 đồng. Quá trình anh Nguyễn Tuấn A sử dụng chiếc xe thì bị Ngân hàng V thu giữ lại chiếc xe. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt, Kiểu Quang T3 tiêu xài cá nhân hết. Hành vi của Kiều Quang T đã phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, hành vi của Kiều Quang T không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp, trật tự quản lý hành chính mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc tương ứng hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và có thái độ khai báo thành khẩn, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm là những tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.

[3] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có đề nghị gì về bồi thường dân sự nên không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 733577, tên chủ xe: Kiều Quang T, biển số đăng ký: 29E-015.51 đã được niêm phong, đánh số bút lục 104, kết luận giám định là tài liệu giả nên tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

[6] Đối với việc Kiều Quang T khai thuê làm giả 01 đăng ký xe ô tô số 733577, tên chủ xe: Kiều Quang T qua mạng xã hội và nhận được qua hình thức ShipCOD. T không nhớ địa chỉ trang mạng xã hội đã liên hệ để thuê làm giả, không lưu giữ bất cứ thông tin gì liên quan đến giao dịch chiếc đăng ký xe giả này. Ngoài lời khai của T thì không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có căn cứ để làm rõ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Kiều Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt: Kiều Quang T 08 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 06 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tổng hợp hình phạt”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2023.
  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Về dân sự: Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có đề nghị gì về bồi thường dân sự nên không xem xét.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 733577, tên chủ xe: Kiều Quang T, biển số đăng ký: 29E-015.51 đã được niêm phong, đánh số bút lục 104.
  6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí toà án: Bị cáo Kiều Quang T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  7. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THA quận Hà Đông;
  • - CA quận Hà Đông;
  • - Bị cáo; Bị hại; N1q;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Đình Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 104/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiều Quang T lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger