|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 104/2024/HS-ST Ngày: 05/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Lệ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Nam
2. Ông Đinh Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Vào ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 26/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 23/5/2024 và Thông báo số 13/TB-TA ngày 27/6/2024 đối với các bị cáo:
- Vũ Đình L, sinh năm 1973 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: số A N, Tổ B, Khu phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đình H, sinh năm 1938 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1944; Vợ: Lê Thị N, sinh năm 1979; Có 02 người con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 27/02/2024 đến ngày 26/3/2024 được tại ngoại.
- Bùi Văn Đ1, sinh năm 1983 tại Nam Định; Nơi cư trú: ấp X, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: bốc vác; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn P, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1954; Vợ: Phan Thị H1, sinh năm 1989; Có 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 620/2011/HSPT ngày 09/6/2011, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt ngày 09/6/2012; Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 được tại ngoại.
- Nguyễn Văn H2, sinh năm 1979 tại Thanh Hóa; Nơi thường trú: Khu phố B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Bốc vác; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1950; Vợ: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1977; Có 02 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 28/2011/HS-ST ngày 03/5/2012, Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt ngày 09/6/2012; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2024.
- Đồng Văn T1, sinh năm 1983 tại Bắc Giang; Nơi thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Bốc vác; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đồng Văn S, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1947; Vợ: Trần Thị K, sinh năm 1986; Có 01 người con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2024.
- Tsàn A K1, sinh năm 1990 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tsàn A T2, sinh năm 1963 và bà Voòng Minh C1 (chết); Vợ: Khưu Xuân H3, sinh năm 1993; Có 01 người con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 được tại ngoại.
- Hồ Văn C2, sinh năm 1985 tại Nghệ An; Nơi cư trú: Tổ A, Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Phương T3, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1964; Vợ: Đặng Thị Thu T4, sinh năm 1987; Có 01 người con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 được tại ngoại.
- Trịnh Tuấn Đ2, sinh năm 1981 tại Nam Định; Nơi cư trú: Số B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Xuân H4, sinh năm 1942 và bà Khương Thị T5, sinh năm 1946; Vợ: Vũ Thị N1, sinh năm 1987; Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 được tại ngoại.
- Bùi Đức T6, sinh năm 1988 tại Nam Định; Nơi thường trú: tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi ở hiện nay: Khu phố B, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn L2, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1961; Vợ: Đỗ Thị Hải L3, sinh năm 1995; Có 03 người con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại.
- Nguyễn Văn H6, sinh năm 1995 tại Nam Định; Nơi thường trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi ở hiện nay: 669/35/3 Tổ H, Khu phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H7, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị L4, sinh năm 1962; Vợ: Đào Thị N2, sinh năm 1989; Có 02 người con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2024 đến ngày 05/02/2024 được tại ngoại.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo Đồng Văn T1: Bà Nguyễn Thị L5 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Mai H8, sinh năm 1962. Nơi cư trú: khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Anh Vũ Văn T7, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Số B đường D, Tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
- Anh Lê Văn T8, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Số 220/31/6 Huỳnh Văn L6, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
- Anh Vòng Thanh S1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Anh Trương Hoài V, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Số D L, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 01/01/2024, anh Vòng Thanh S1 rủ bạn bè đến nhà mẹ ruột của mình là bà Nguyễn Thị Mai H8 ở khu phố B, phường P, thành phố L, tỉnh Đồng Nai để nhậu. Tại đây, khoảng 14 giờ cùng ngày, Vũ Đình L, Bùi Văn Đ1, Nguyễn Văn H2, Đồng Văn T1, Hồ Văn C2, Tsàn A, Trịnh Tuấn Đ2, Bùi Đức T6, và Nguyễn Văn H6 rủ nhau chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức xóc đĩa.
Để thực hiện hành vi đánh bạc, TSàn A K1 vào bên trong nhà bà H8 lấy 01 cái chén, 01 cái đĩa, 01 cái chăn rồi cùng L cắt các lá bài tây thành các con vị (dạng hình tròn đường kính khoảng 02 cm, một mặt có hình và một mặt không có hình). Sau khi chuẩn bị xong, các bị cáo rủ nhau vào trong phòng khách nhà bà H8 để bắt đầu đánh bạc. Hình thức đánh bạc cụ thể như sau: Người chơi giữ vai trò “nhà cái” dùng bộ chén đĩa có chứa 04 con vị để lắc và đặt ra giữa sòng cho các người chơi giữ vai “nhà con” đặt tiền từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng lên cái chăn trải trên sàn nhà. Nếu “nhà con” chọn kết quả “chẵn” thì đặt tiền vào phía trong (gần người làm “nhà cái” nhất), nếu chọn kết quả “lẻ” thì đặt tiền phía bên ngoài. Khi các “nhà con” đặt tiền xong thì “nhà cái” sẽ mở chén để xem kết quả, nếu kết quả là “chẵn” thì “nhà cái” thắng tiền những người đặt “lẻ”, thua tiền người đặt “chẵn” hoặc ngược lại; số tiền thắng hoặc thua tương ứng với số tiền “nhà con” đã đặt cược. Quy ước “chẵn” là khi có 2 hoặc 4 con vị có cùng mặt, “lẻ” là khi có 1 hoặc 3 con vị có cùng mặt.
Khi bắt đầu chơi, Đ1 là người làm cái được khoảng 4 ván thì chuyển cho L tiếp tục làm cái. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, do mâu thuẫn trong lúc chơi đánh bạc, xảy ra cãi nhau nên L không làm cái nữa và bỏ ra bên ngoài. Lúc này Công an thành phố L phát hiện bắt quả tang Bùi Văn Đ1, Tsàn A, Hồ Văn C2, Đồng Văn T1, Trịnh Tuấn Đ2, Nguyễn Văn H2, Bùi Đức T6, Nguyễn Văn H6 đang đánh bạc, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 8.400.000 đồng và 01 bộ dụng cụ dùng để xóc đĩa (01 chén, 01 đĩa, 04 con vị, 01 cái chăn), riêng L nhanh chóng rời khỏi hiện trường.
Qua điều tra xác định:
- Vũ Đình L mang theo 1.500.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc và thua hết số tiền mang theo.
- Bùi Văn Đ1 mang theo 2.503.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc, Đ1 lấy ra 2.450.000 đồng để đánh bạc, còn 53.000 đồng để trên người. Đ1 thua 950.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng để trên chiếu bạc, thu giữ trên người Đại 53.000 đồng.
- Tsàn A K1 mang theo 1.650.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc, K1 lấy ra 1.150.000 đồng để đánh bạc, còn 500.00 đồng để trên người. Khìn thua 150.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng để trên chiếu bạc, thu giữ trên người Khìn 500.000 đồng.
- Hồ Văn C2 mang theo 2.420.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc, C2 lấy ra 1.400.000 đồng để đánh bạc, còn 1.020.000 đồng để trên người. C2 không thắng, không thua, còn nguyên 1.400.000 đồng để trên chiếu bạc, thu giữ trên người C2 1.020.000 đồng.
- Đồng Văn T1 mang theo 2.200.000 đồng, T1 khai chỉ sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc. T1 thua 300.000 đồng, còn lại 900.000 đồng để trên chiếu bạc, thu giữ trên người T1 1.000.000 đồng, T1 khai 1.000.000 đồng này dùng vào mục đích tiêu xài cá nhân.
- Trịnh Tuấn Đ2 mang theo 1.350.000 đồng, dùng hết số tiền này để đánh bạc. Đ2 thua 150.000 đồng, còn lại 1.200.000 đồng để trên chiếu bạc.
- Nguyễn Văn H2 mang theo 5.105.000 đồng, H2 khai sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, còn lại 2.105.000 đồng để tiêu xài cá nhân. H2 thua 350.000 đồng, còn lại 2.650.000 đồng, lúc này H2 đã cất bớt 1.650.000 đồng vào trong người, còn lại 1.000.000 đồng dự định tiếp tục chơi nên để trên chiếu bạc, thu giữ trên người Hiền 3.755.000 đồng.
- Nguyễn Văn H6 mang theo 2.000.000 đồng, dùng hết số tiền này để chơi đánh bạc. H6 thua 600.000 đồng, còn lại 1.400.000 đồng để trên chiếu bạc.
- Bùi Đức T6 mang theo 14.100.000 đồng, sử dụng 4.000.000 đồng để chơi đánh bạc. T6 thắng thêm 4.000.000 đồng, tổng cộng có 8.000.000 đồng tiền đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, thu giữ trên tay T6 8.000.000 đồng, thu giữ trên người T6 10.100.000 đồng, đây là tiền T6 dùng để trả nợ cho anh Vòng Thanh S1, không sử dụng vào việc đánh bạc.
Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 22.728.000 đồng.
Về vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L thu giữ:
- 04 con vị, 01 chén, 01 đĩa, 01 cái chăn và số tiền: 39.678.000 đồng của các cáo tham gia đánh bạc và của một số người có mặt tại hiện trường.
- 10 điện thoại di động các loại gồm: 01 điện thoại Iphone 13 của Bùi Đức T6, 01 điện thoại Samsung của Đồng Văn T1, 01 điện thoại Iphone 13 của Nguyễn Văn H6, 01 điện thoại Samsung của Bùi Văn Đ1, 01 điện thoại Samsung của Nguyễn Văn H2, 01 điện thoại Iphone 8 plus của Hồ Văn C2, 01 điện thoại Nokia của Tsàn A K2, 01 điện thoại Oppo của Trịnh Tuấn Đ2, 01 điện thoại Nokia, số tiền 400.000 đồng của Vũ Văn T7, 01 điện thoại N3 và số tiền 6.450.000 đồng của Lê Văn T8. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho các bị cáo và những người liên quan.
Riêng 32.828.000 đồng được tiếp tục tạm giữ để phục vụ cho công tác xét xử.
Tại bản cáo trạng số 81/CT-VKS-LK ngày 26/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố các bị cáo Vũ Đình L, Bùi Văn Đ1, Nguyễn Văn H2, Đồng Văn T1, Hồ Văn C2, Tsàn A, Trịnh Tuấn Đ2, Bùi Đức T6, và Nguyễn Văn H6 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 (trừ Đ1 và H2 không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i) của Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt:
- Vũ Đình L từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Bùi Văn Đại từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Nguyễn Văn H2 từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Tsàn A K2 từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Đồng Văn T1 từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58
Xử phạt tiền Hồ Văn C2, Trịnh Tuấn Đ2, Bùi Đức T6, Nguyễn Văn H6 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Về vật chứng: tịch thu tiêu huỷ vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, tịch thu sung quỹ nhà nước tiền dùng đánh bạc của các bị cáo, tiếp tục tạm giữ 10.100.000 đồng của T6 để đảm bảo thi hành án cho nghĩa vụ của T6.
- Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo T1: Thống nhất với tội danh và hình phạt như cáo trạng truy tố, T1 thuộc diện hộ cận nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo T1 chỉ là người tham gia chơi đánh bạc, số tiền đánh bạc ít, hiện đã bị tạm giam hơn 06 tháng nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt tù đối với T1 với thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam, đồng thời T1 có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T1.
Những người tham gia tố tụng đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sửa đổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận vào ngày 01/01/2024, tại nhà của bà Nguyễn Thị Mai Hồng ở khu phố 2, phường Phú Bình, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai các bị cáo Vũ Đình Long, Bùi Văn Đại, Nguyễn Văn Hiền, Đồng Văn Thắng, Hồ Văn Cường, Tsàn A Khìn, Trịnh Tuấn Đạt, Bùi Đức Thành và Nguyễn Văn Hưng đã đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền với hình thức “xóc đĩa”.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Trong số tiền 32.828.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và trên người các bị cáo thì có chứng cứ chứng minh có 10.100.000 đồng của Thành không phải là tiền dùng đánh bạc, Thành khia tiền này mang theo để trả nợ tiền mua gạo của anh Vòng Thanh Sang, anh Sang có lời khai thừa nhận và lời khai của Thành, anh Sang phù hợp với việc Thành đến Long Khánh ăn tiệc, có gặp anh Sang, sau đó hẹn cùng nhau về nhà anh Sang chơi để trả nợ luôn.
Do đó xác định tiền dùng đánh bạc là 22.728.000 đồng, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Các bị cáo là công dân có đủ nhận thức và năng lực, dù biết việc đánh bạc ăn thua bằng tiền là hành vi bị nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn tham gia chơi đánh bạc nhằm mục đích sát phạt, tước đoạt tiền bạc tài sản của nhau. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ tình tiết liên quan đến vụ án, tại phiên toà các bị cáo có thái độ ăn năn hối hận đối với hành vi phạm tội, trừ Đại và Hiền có nhân thân xấu thì các bị cáo còn lại đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra các bị cáo đều là người lao động phổ thông, thu nhập thấp, là lao động chính trong gia đình, Thắng là người thuộc diện hộ cận nghèo, Thành có bố là thương binh, Cường có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3. Đây là các là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Khìn và Long là người chuẩn bị các công cụ phương tiện phạm tội, Đại và Long là người làm cái trả tiền thắng thua với người chơi trong đó Long có tiền dùng đánh bạc là 1.500.000 đồng, Long làm cái xuyên suốt quá trình chơi, nhiều hơn so với Đại có tiền dùng đánh bạc là 2.503.000 đồng và tuy có nhân thấn xấu về “Tội đánh bạc” vào năm 2011 nhưng chỉ làm cái 04 ván. Hiền là người thực hành nhưng có số tiền đánh bạc là 5.105.000 đồng và có nhân thân xấu về “Tội đánh bạc” vào năm 2012. Do đó hình phạt áp dụng đối với Long, Đại, Hiền và Khìn phải cao hơn so với các bị cáo còn lại chỉ là người thực hành, có nhân thân tốt và có tiền đánh bạc ít là Thắng, Cường, Hưng, Thành, Đạt.
Xem xét tính chất, mức độ phạm tội, vai trò của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân thì thấy Long và Khìn có nhân thân tốt, Đại và Hiền mặc dù có nhân thân xấu về tội đánh bạc nhưng thời gian bị xét xử là từ năm 2011, 2012 nên đối với Long, Đại, Hiền và Khìn chỉ cần xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, đối với Cường, Hưng, Thành, Đạt xử phạt tiền cũng đủ nghiêm để răn đe giáo dục. Riêng đối với Thắng, do là người thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt tiền, nếu phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì Thắng phải tiếp tục chấp hành thời gian thử thách, so sánh với các bị cáo đầu vụ là nặng hơn, thời giai tạm giam của Thắng cho đến ngày xét xử là 06 tháng 04 ngày tù nên Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, xử phạt tù đối với Thắng bằng thời hạn tạm giam.
Ngoài hình phạt chính, còn phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo Long, Đại, Hiền và Khìn để răn đe, giáo dục.
[5] Về vật chứng vụ án:
04 con vị, 01 chén, 01 đĩa, 01 cái chăn là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Trong tổng số tiền 39.678.000 đồng thì tiền dùng vào việc đánh bạc là 22.728.000 đồng nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Số tiền 10.100.000 đồng thu giữ trên người bị cáo Thành không dùng vào việc đánh bạc, nhưng không trả lại cho Thành mà tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho các nghĩa vụ phải thi hành của Thành.
Số tiền 6.450.000 đồng của Lê Văn Thạo và 400.000 đồng của Vũ Văn Tuy không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh trả lại cho ông Thạo và ông Tuy số tiền này là phù hợp.
10 điện thoại di động các loại gồm: 01 điện thoại iphone 13 của Bùi Đức Thành, 01 điện thoại samsung của Đồng Văn Thắng, 01 điện thoại iphone 13 của Nguyễn Văn Hưng, 01 điện thoại samsung của Bùi Văn Đại, 01 điện thoại samsung của Nguyễn Văn Hiền, 01 điện thoại iphone 8 plus của Hồ Văn Cường, 01 điện thoại nokia của Tsàn A Khìn, 01 điện thoại oppo của Trịnh Tuấn Đạt, 01 điện thoại nokia, các phương tiện này không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.
[7] Về án phí: Trừ bị cáo Thắng thì các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo Thắng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Vũ Đình L, Tsàn A phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Vũ Đình L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Tsàn A K2 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Vũ Đình L, Tsàn A cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú giám sát giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn Đ1, Nguyễn Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ1 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Bùi Văn Đ1, Nguyễn Văn H2 cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú giám sát giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Căn cứ Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn H2 nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Đồng Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Đồng Văn T1 06 (sáu) tháng 04 (bốn) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2024. Bị cáo Đồng Văn T1 đã chấp hành xong hình phạt tù.
Căn cứ Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đồng Văn T1 nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn C2, Trịnh Tuấn Đ2, Bùi Đức T6 và Nguyễn Văn H6 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt tiền Hồ Văn C2 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.
Xử phạt tiền Trịnh Tuấn Đ2 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.
Xử phạt tiền Bùi Đức T6 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng
Xử phạt tiền Nguyễn Văn H6 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng
- Căn cứ ñieåm e khoaûn 2 Ñieàu 32, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt tiền bị cáo Vũ Đình L 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, phạt tiền bị cáo Bùi Văn Đ1 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn H2 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, phạt tiền bị cáo T9 A Khìn 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.
- Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu huỷ 04 con vị cắt ra từ bộ bài 52 lá, 01 chén sứ, 01 đĩa sứ, 01 cái chăn. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 22.728.000 đồng. Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.100.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho các nghĩa vụ của Bùi Đức T6 (biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/5/2024).
- Áp dụng Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Vũ Đình L, Bùi Văn Đ1, Nguyễn Văn H2, Tsàn A, Hồ Văn C2, Trịnh Tuấn Đ2, Bùi Đức T6, Nguyễn Văn H6, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đồng Văn T1.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H8 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa Trương Thị Mỹ Lệ |
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - tội đánh bạc
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Vũ Đình Long, Tsàn A Khìn phạm tội “Đánh bạc” Xử phạt bị cáo Vũ Đình Long 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Tsàn A Khìn 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
