Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 104/2024/HS-ST

Ngày: 03-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Phước Trinh
  2. Bà Phạm Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Quang Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trương Hoàng T, sinh năm 1996, sinh tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số A, Tổ F, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Trương Thị Lệ T2; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 2003, có 01 người con sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 05/02/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 20/2015/HSST ngày 05/02/2015. Ngày 13/04/2017, bị cáo đã chấp hành án xong.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/8/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  1. Bị hại:
    1. Ông Lê Văn Phát Ngọc M, sinh năm 1970
    2. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.(Vắng mặt)

    3. Ông Vũ Văn H, sinh năm 1969
    4. Địa chỉ: Số C, đường D, Ấp A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

    5. Bà Lê Thị T3, sinh năm 1965
    6. Địa chỉ: Số C, đường D, Tổ E, Ấp A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

    7. Ông Đinh Trọng P, sinh năm 1978
    8. Địa chỉ: Số G, tỉnh lộ 15, Ấp E, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

  2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
    1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1985
    2. Địa chỉ: Số D, đường C, Tổ 1, ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)

    3. Ông Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1989
    4. Địa chỉ: Số F, quốc lộ B, khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trương Hoàng T cùng đồng phạm đã thực hiện hành vi Cướp giật tài sản vào năm 2019, Trộm cắp tài sản vào năm 2022 trên địa bàn huyện C, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Nguyễn Trương Hoàng T và Lê Ngọc B là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/10/2019, B đến nhà của T tại số nhà A, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh rủ cùng đi cướp giật tài sản thì T đồng ý.

Lúc đi, T điều khiển xe gắn máy biển số 59V3-068.92 chở Bảo lưu thông trên đường T thuộc ấp B, xã T, huyện C thì phát hiện ông Lê Văn P1 Ngọc M đang điều khiển xe gắn máy Cup 50 màu xanh dừng xe nghe điện thoại, trên tay ông M cầm điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 256 GB, màu xanh. T quay đầu xe lại chạy từ phía sau ép sát bên trái của ông M, B ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động của ông M rồi cả hai cùng nhau tẩu thoát về nhà T.

Sau đó, B một mình điều khiển xe gắn máy biển số 59V3-068.92 đem điện thoại di động vừa chiếm đoạt được đến khu vực thị trấn H, huyện H tìm nơi bán, nhưng chưa bán được thì bị Đội 3, phòng C Công an Thành phố H bắt cùng tang vật và giao cho Công an huyện C thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Kết luận định giá tài sản số 252/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự ngày 05/11/2019 kết luận 01 điện thoại Iphone 11 Promax 256 màu xanh đã qua sử dụng trị giá 32.000.000đ (Ba mươi hai triệu đồng.

Ngày 08/05/2020, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã tiến hành xét xử bị cáo Lê Ngọc B đối với hành vi Cướp giật tài sản nêu trên. Đối với Nguyễn Trương Hoàng T đã bỏ trốn, không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm đối tượng.

Ngày 27/08/2023, Công an xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Trương Hoàng T, tại Cơ quan điều tra T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 18/08/2022, Nguyễn Trương Hoàng T chơi game bắn cá tại khu vực gần chợ H1, thuộc huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp một thanh niên chơi bắn cá chung tên P2 (Chưa rõ lai lịch). Do chơi không còn tiền tiêu xài, lúc này P2 rủ T đi trộm chó bán lấy tiền tiêu xài, T đồng ý. P2 kêu T đợi ở tiệm bắn cá, P2 về nhà lấy dụng cụ dùng để bắn chó, khoảng 30 phút sau, P2 quay lại cầm theo 01 ba lô màu đen bên trong có 01 bình Ắc quy, 01 bộ kích điện, 01 cây nỏ bằng gỗ, 03 mũi tên bằng gỗ có mũi bằng kim loại, 01 bao ny lông màu xanh dùng đựng chó và 01 ná thun bằng gỗ, 01 bịch bột ớt khô dùng để chống trả người dân khi bị truy đuổi, phương tiện sử dụng đi bắn chó do T chuẩn bị là xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59Y2-297.92.

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 19/08/2022, T điều khiển xe gắn máy Yamaha Exciter biển số 59Y2-297.92 chở P2 từ huyện H qua Cầu X đến khu vực xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. T chở P2 đi theo đường Tỉnh lộ 15, đến địa chỉ số G, đường T, Ấp E, xã T, huyện C bắn trộm 01 con chó lông màu vàng nặng 16 kg của chủ sở hữu ông Đinh Trọng P và bỏ vào bao. Sau đó, T chở P2 theo đường Tỉnh lộ 15 hướng đến xã P, lưu thông qua nhiều tuyến đường bắn trộm thêm được 06 con chó bỏ vào bao. Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, T và P2 tiếp tục bắn trộm được 01 con chó nặng 10,5 kg màu trắng đen tại trước nhà số C, đường D, Tổ E, Ấp A, xã P, huyện C của chủ sở hữu ông Vũ Văn H và bỏ vào bao; bắn trộm được 01 con chó nặng 10,5 kg màu vàng trắng tại trước nhà số C, đường D, Tổ E, Ấp A, xã P, huyện C của chủ sở hữu bà Lê Thị T3. Lúc này, người dân gần đó phát hiện truy hô “Trộm chó” đuổi theo sau xe của T, T điều khiển xe chở P2 và số chó trộm được bỏ chạy. Đến giao lộ giữa đường D và đường D thuộc Ấp A, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì do không làm chủ tốc độ điều khiển xe lao thẳng vào trụ biển báo bên lề trái đường làm T té ngã va chạm vào tường nhà người dân, T không chạy được nên bị bắt quả tang cùng vật chứng. P2 chạy bộ về hướng đồng ruộng thuộc ấp C, xã P, huyện C tâu thoát. Công an xã P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Do T bị chấn thương, chảy nhiều máu nên đã đưa T đến Bệnh viện Đ cấp cứu. Sau đó, Bệnh viện Đ chuyển T đến Bệnh viện N2 tiếp tục điều trị.

Ngày 19/8/2022, bà Lê Thị T3, ông Vũ Văn H, ông Đinh Trọng P có đơn trình báo Công an về việc bị trộm chó.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59Y2-297.92, số khung RLCE55P10CY120219, số máy 55P1120238;
  • - 01 ba lô màu đen bên trong có: 01 bình ắc quy, 01 bộ kích điện, 01 nỏ bằng gỗ, 03 mũi tên bằng gỗ có mũi bằng kim loại, 01 ná thun bằng gỗ, 01 bịch bột ớt khô;
  • - 01 bao nylon màu xanh;
  • - 01 mũ bảo hiểm màu đen;
  • - 01 cái mũ lưỡi trai;
  • - 02 đôi dép.

Vật chứng được nhập kho tại Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C.

09 con chó đã chết (Trả lại chủ sở hữu 02 con chó; Tiêu hủy tang vật 07 con chó). (BL 12,18)

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại Vũ Văn H, Lê Thị T3 số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng); bồi thường cho bị hại Đinh Trọng P số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng). Các bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Bị hại Lê Văn Phát Ngọc M đã được trả lại điện thoại nên không yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS.CC ngày 16/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị can Nguyễn Trương Hoàng T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản” của bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm d khoản 2 Điều 171 xử phạt bị cáo T với mức án từ 05 (Năm) năm đến 06 (S) năm tù đối với tội “Cướp giật tài sản” và áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo T với mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù đối với tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 (Sáu) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị:

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59Y2-297.92, số khung RLCE55P10CY120219, số máy 55P1120238 do bị cáo là người quản lý, sử dụng hợp pháp.

- Tịch thu và tiêu hủy:

  • + 01 balo màu đen bên trong có: 01 bình ắc quy, 01 bộ kích điện, 01 nỏ bằng gỗ, 03 mũi tên bằng gỗ có mũi bằng kim loại, 01 ná thun bằng gỗ, 01 bịch bột ớt khô;
  • + 01 bao nylon màu xanh;
  • + 01 mũ bảo hiểm màu đen;
  • + 01 cái mũ lưỡi trai;
  • + 02 đôi dép.

Vật chứng được nhập kho tại Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C.

- Đối với 09 con chó đã chết trong đó trả lại chủ sở hữu 02 con chó và tiêu hủy tang vật 07 con chó nên không đề nghị xem xét là phù hợp.

- Đối với người thanh niên tên P2 (Chưa rõ lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của P2 để điều tra xử lý sau. Xét thấy phù hợp nên không đề nghị xử lý trong vụ án này.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Về hành vi, các quyết định Tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trương Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội:

Vì muốn có tiền tiêu xài nên vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 29/10/2019, tại trước nhà số F, Tỉnh lộ 2, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo cùng Lê Ngọc B sử dụng xe gắn máy biển số 59V3-068.92 thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax 256GB trị giá 32.000.000₫ (Ba mươi hai triệu đồng) của ông M.

Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 19/08/2022, trên địa bàn huyện C, bị cáo điều khiển xe gắn máy biển số 59Y2-297.92 chở P2 (không rõ lai lịch) bắn trộm chó của ông P, ông H, bà T3. Tổng cộng bị cáo và Phú bắn được 09 con chó. Trong quá trình tẩu thoát bị cáo bị phát hiện bắt quả tang.

Sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[4] Tại Bản kết luận định giá tài sản số 165/KL-HĐĐGTS ngày 21/09/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận tổng số 09 con chó bị bắt trộm trị giá 7.455.000₫ (Bảy triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Riêng 03 con chó của 03 bị hại đã có nhận dạng, có tổng trọng lượng (10,5kg +10,5kg +16kg ) là 37kg, định giá tổng giá trị tài sản thiệt hại là 2.590.000₫ (Hai triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng).

[5] Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vị nêu trên của bị cáo T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo sử dụng chiếc xe máy làm phương tiện để thực hiện hành vi cướp giật tài sản là một trong những thủ đoạn nguy hiểm nên tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Ngoài ra, bị cáo còn lén lút, lợi dụng sơ hở của những chủ sở hữu tài sản để bắt trộm chó nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội do cố ý, bị cáo đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo T một phần hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu gì thêm đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59Y2-297.92, số khung RLCE55P10CY120219, số máy 55P1120238, chủ sở hữu phương tiện là ông Nguyễn Văn L. Ông L xác định đã bán xe cho ông Nguyễn Trọng N1 và ông N1 xác nhận đã bán lại xe cho bị cáo T. Tuy nhiên, ông L, ông N1 đều chưa thực hiện thủ tục sang tên chủ sở hữu đối với xe. Ông L, ông N1 xác nhận bị cáo là người quản lý, sử dụng hợp pháp xe, không có yêu cầu gì đối với chiếc xe nêu trên. Do bị cáo dùng chiếc xe biển số 59Y2-297.92 để làm phương tiện phạm tội do đó tịch thu, nộp ngân sách nhà nước chiếc xe này là phù hợp.

- Tịch thu và tiêu hủy:

  • + 01 balo màu đen bên trong có: 01 bình ắc quy, 01 bộ kích điện, 01 nỏ bằng gỗ, 03 mũi tên bằng gỗ có mũi bằng kim loại, 01 ná thun bằng gỗ, 01 bịch bột ớt khô do liên quan đến hành vi phạm tội;
  • + 01 bao nylon màu xanh do liên quan đến hành vi phạm tội;
  • + 01 mũ bảo hiểm màu đen do không còn giá trị sử dụng;
  • + 01 cái mũ lưỡi trai do không còn giá trị sử dụng;
  • + 02 đôi dép do không còn giá trị sử dụng.

Tang vật theo Lệnh nhập kho vật chứng số 202/LNK và Phiếu nhập kho vật chứng số 202/PNK cùng ngày 07/11/2022 của Công an huyện C. (BL 111-112)

Đối với 09 con chó đã chết trong đó trả lại chủ sở hữu 02 con chó và tiêu hủy tang vật 07 con chó (BL 12,18) nên Hội đồng xét xử xét không xem xét là phù hợp.

[8] Đối với người thanh niên tên P2 (Chưa rõ lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi của P2 để điều tra xử lý sau. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xử lý trong vụ án này.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trương Hoàng T phạm tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trương Hoàng T 05 (Năm) năm tù.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trương Hoàng T 01 (Một) năm tù.

Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (S) năm tù. Thời hạn tù tính kê từ ngày 27/8/2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 59Y2-297.92, số khung RLCE55P10CY120219, số máy 55P1120238.

- Tịch thu và tiêu hủy:

  • + 01 balo màu đen bên trong có: 01 bình ắc quy, 01 bộ kích điện, 01 nỏ bằng gỗ, 03 mũi tên bằng gỗ có mũi bằng kim loại, 01 ná thun bằng gỗ, 01 bịch bột ớt khô;
  • + 01 bao nylon màu xanh;
  • + 01 mũ bảo hiểm màu đen;
  • + 01 cái mũ lưỡi trai;
  • + 02 đôi dép.

Tang vật theo Lệnh nhập kho vật chứng số 202/LNK và Phiếu nhập kho vật chứng số 202/PNK cùng ngày 07/11/2022 của Công an huyện C. (BL 111-112)

- Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND H.Củ Chi;
  • - Chi cục THADS H.Củ Chi;
  • - PC.53;
  • - Nhà tạm giữ CA H.Củ Chi;
  • - Đội CSĐTTH CA H.Củ Chi;
  • - Sở Tư pháp TPHCM
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Túy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 104/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 06 (Sáu) năm tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger