Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HS-ST

Ngày 01 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Tuấn Phong – Cán bộ thành đoàn Long Xuyên và bà Phan Thị Yến – Nguyên cán bộ phòng giáo dục thành phố Long Xuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Tuấn K, sinh năm: 2005, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoài N và bà Võ Thị Ánh T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/01/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).
  2. Quách Thành D, sinh ngày 03/10/2007, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Nam T1 (chết) và bà Đoàn Thị Thanh T2; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/01/2024 cho đến nay (có mặt).

- Đại diện hợp pháp của bị cáo D: Bà Đoàn Thị Thanh T2, sinh năm: 1989; Địa chỉ: khóm F, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Mẹ ruột bị cáo D, có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lương Minh H, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thuộc Sở tư pháp tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị hại:

  • + Nguyễn Hữu L, sinh năm: 2004; Địa chỉ: số E khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • + Nguyễn Đức H1, sinh năm: 2007; Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp cho H1: Ông Nguyễn Văn P. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang (Cha ruột H1, vắng mặt);

  • + Lê Hùng T3, sinh năm: 2006. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Em Lê Nguyên Triệu T4, sinh năm: 2008; Địa chỉ: số D khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp cho T4: Ông Lê Văn T5, sinh năm: 1972; Địa chỉ: số D khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (cha ruột T4, vắng mặt);

  • + Em Nguyễn Hữu Đ, sinh năm: 2008; Địa chỉ: số A khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp cho Đ: Bà Nguyễn Trà M, sinh năm: 1987; Địa chỉ: số A khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Mẹ ruột Đ, vắng mặt);

- Người làm chứng: Huỳnh Thái H2 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 11 tháng 01 năm 2024, Nguyễn Tuấn K, Quách Thành D (sinh ngày 03/10/2007), Lê Nguyên Triệu T4 (sinh ngày 16/02/2008), Nguyễn Hữu Đ (sinh ngày 08/10/2008), Dương Minh N1 (sinh ngày 05/4/2007), K1, T1 Trương không rõ nhân thân uống rượu bia tại nhà Nguyễn Thị N2 số 133/11, khóm M, phường M, thành phố L. Đến 23 giờ 30 cùng ngày, K đi ra ngoài thấy nhóm công nhân của Công ty cổ phần H5 vừa tan ca đậu xe cách nhà N2 khoảng 10 mét, trong đó có các anh Nguyễn Hữu L ngồi trên xe mô tô biển số 67B2-493.64, Nguyễn Đức H1 ngồi trên xe mô tô biển số 67AB-028.12, Lê Hùng T3 ngồi trên xe mô tô biển số 67B1-737.90, Huỳnh Thái H2 ngồi trên xe motô không rõ biển số. Cho rằng những người thanh niên này là nhóm thiếu niên P có mâu thuẫn với K trước đó, nên K đi vào nhà nói nhóm Phú H3 đến. Nghe vậy, N1 nói chém tụi nó thì K, D, Đ, T4, Tài T6 đồng ý và đến khu vực bên ngoài nhà N2 lấy

hung khí, riêng K1 không tham gia. N1 cầm 01 con dao tự chế; K cầm 01 cây chĩa loại một mũi nhọn bằng kim loại, dài khoảng 1,6 mét; D cầm 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán dài 50 cm, lưỡi dài 50 cm; T4, Tài T6, mỗi người cầm 01 cây chĩa loại 03 mũi bằng kim loại, dài khoảng 1,5 mét; Đ không cầm hung khí cùng nhau chạy đến chỗ nhóm công nhân đang đậu xe. Khi thấy nhóm của K đến, anh H2 tăng ga bỏ chạy, các anh H1, T3 bỏ xe mô tô lại bỏ chạy thì bị N1, Đ, Tài T6 đuổi theo nhưng không chém được. Còn anh L đang ngồi trên xe thì bị T4 dùng đĩa đâm trúng tay phải nên anh L bỏ xe mô tô lại chạy, leo vào cổng công ty. Trong lúc bỏ chạy anh L bị D, K, T4 đuổi theo, dùng chĩa, dao đâm, chém, đập nhiều nhát trúng lưng, tay phải. Sau đó K, D, T4, N1, Tài T6 quay lại dùng dao, chĩa đâm, đập, chém vào các xe mô tô 67B2-493.64, 67AB-028.12, 67B1-737.90 gây hư hỏng rồi bỏ đi.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, Ủy ban nhân dân phường M có văn bản đề nghị xử lý những người có hành vi gây mất an ninh, trật tự tại tổ A, khóm M, phường M, thành phố L.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, Quách Thành D, Nguyễn Tuấn K đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đầu thú.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 thanh kim loại màu trắng dài 1,5m trên đầu có gắn một thanh kim loại màu trắng sắt nhọn dài 40cm; 01 nón bảo hiểm An Phát, màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần dài màu đen, 01 đôi dép mủ quai ngang màu trắng do Quách Thành D giao nộp; 01 áo thun tay ngắn màu trắng phía trước có sọc đỏ đen; 01 quần thun ngắn màu đen do Nguyễn Tuấn K giao nộp; 01 áo thun tay ngắn màu đen, 01 quần jean màu xám đen do Lê Nguyên Triệu T4 giao nộp.

Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người còn sống số 43/24/KLTTCT-TTPY ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Hữu L, sinh năm 2004, xác định: Các kết quả chính: Sây sát da dạng thẳng vùng lưng phải, để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (05 x 0,3)cm, tỷ lệ 0,5%, cơ chế do vật sắc gây nên; Sây sát da dạng thẳng vùng lưng trái, để lại vết biển đổi sắc tố da, kích thước (04 x 0,2)cm, tỷ lệ 0,5%, cơ chế do vật sắc gây nên; 03 sẹo mặt sau 1/3 giữa cánh tay phải có khoảng cách đều nhau: Vết 01 kích thước (0,8 x 0,8)cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01% cơ chế do vật nhọn có khoảng cách đều nhau gây nên. Vết 02 kích thước (0,8 x 0,6)cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%, cơ chế do vật nhọn có khoảng cách đều nhau gây nên. Vết 03 kích thước (0,6 x 0,4)cm là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%, cơ chế do vật nhọn có khoảng cách đều nhau gây nên; 02 sẹo mặt sau khuỷu tay phải, nằm ngang, sẹo hơi lõm, màu hồng, bờ sắc gọn: Vết 01 kích thước (4,5 x 0,5)cm, là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ 02%, cơ chế do vật sắc gây nên. Vết 02 kích thước (04 x 0,3)cm, là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ 02%, cơ chế do vật sắc gây nên.

Kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Hữu L là 08%

Trần Văn B, Trần Văn V, S, Trương Thanh H4 Tại Cáo trạng số 113/CT-VKSLX ngày 05/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Quách Thành D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Tuấn K, Quách Thành D vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện hợp pháp bị cáo D bà Đoàn Thị Thanh T2 thống nhất với nội dung vụ án và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Nguyễn Hữu L, Nguyễn Đức H1, Lê Hùng T3 vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Chi phí sửa xe mô tô 67B2-493.64 là 90.000 đồng, L không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Anh Nguyễn Đức H1, Lê Hùng T3 khai chi phí sửa xe mô tô 67AB-028.12 là 900.000 đồng, xe mô tô 67B1-737.90 là 800.000 đồng. H1, T3 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Quách Thành D, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: bị cáo Nguyễn Tuấn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Quách Thành D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy công cụ phạm tội, trang phục không còn giá trị sử dụng.

Người bào chữa cho bị cáo D thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên về quan điểm truy tố, không tranh luận về tội danh. Tuy nhiên, về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử có quan tâm, xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội; trình độ học vấn thấp; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa thành niên; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú; bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo, cha mất sớm nên thiếu sự quan tâm, giáo dục của gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Các bị cáo bị Nguyễn Tuấn K, Quách Thành D thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của người tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của những người liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ kết luận:

Ngày 11/01/2024, Nguyễn Tuấn K, Quách Thành D cùng với Lê Nguyên Triệu T4 (sinh ngày 16/02/2008), Nguyễn Hữu Đ (sinh ngày: 08/10/2008) và nhiều người không rõ nhân thân thực hiện hành vi dùng dao, chĩa là hung khí nguy hiểm đuổi chém các anh Nguyễn Hữu L, Nguyễn Đức H1, Lê Hùng T3, Huỳnh Thái H2 gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Quách Thành D đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù (tội phạm nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt bình thường của cộng đồng dân cư khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang gây tâm lý hoang mang lo sợ

trong quần chúng nhân dân khi có mâu thuẫn thì sử dụng hung khí nguy hiểm để tự giải quyết với nhau.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Quách Thành D là những thanh niên khỏe mạnh, có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc vi phạm pháp luật. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo D tuy là người chưa thành niên nhưng với bản tính côn đồ, xem thường pháp luật, tính mạng sức khỏe và tài sản của người khác đã cố ý cùng với đồng bọn sử dụng hung khí truy đuổi, rượt chém các công nhân trong đó chém gây thương tích cho Nguyễn Hữu L với tỷ lệ thương tật 08%; đập phá xe máy của L, H1, T3 vào ngày 11/01/2024 trước trụ sở Công ty H5 gây tâm lý hoang mang, bất an cho nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Trong vụ án này các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò nhiệm vụ và thực hiện hành vi với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là sử dụng dao tự chế nhằm giải quyết mâu thuẫn cá nhân, gây rối trật tự công cộng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo K, D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo D tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa thành niên nên được áp dụng các quy định về người chưa thành niên phạm tội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại L, H1, T3 không yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản và không yêu cầu bồi thường về sức khỏe. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy công cụ phạm tội, trang phục không còn giá trị sử dụng: 01 thanh kim loại màu trắng dài 1,5m trên đầu có gắn một thanh kim loại màu trắng nhọn dài 40cm; 01 nón bảo hiểm An Phát, màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần dài màu đen, 01 đôi dép mủ quai ngang màu trắng; 01 áo thun tay ngắn màu trắng phía trước có sọc đỏ đen; 01 quần thun ngắn màu đen; 01 áo thun tay ngắn màu đen; 01 quần jean màu xám đen (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

[7] Đối với: Kiệt, D, T4, N1, Tài T6 dùng dao, chĩa đâm, đập, chém làm hư hỏng các xe mô tô 67B2-493.64, 67AB-028.12, 67B1-737.90 nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý làm hư hỏng tài sản.

Lê Nguyên Triệu T4 (sinh ngày 16/02/2008), Nguyễn Hữu Đ (sinh ngày 08/10/2008 nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Dương Minh N1, Tài T6 tham gia gây rối trật tự công cộng nhưng N1 không rõ đang ở đâu, Tài T6 chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tách vụ án tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.

Nguyễn Hữu L bị gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08% nhưng rút yêu cầu khởi tố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không khởi tố vụ án hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.

[8] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Quách Thành D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tuấn K 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/01/2024).
  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt: bị cáo Quách Thành D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy công cụ phạm tội, trang phục không còn giá trị sử dụng: 01 thanh kim loại màu trắng dài 1,5m trên đầu có gắn một thanh kim loại màu trắng nhọn dài 40cm; 01 nón bảo hiểm An Phát, màu đen; 01 áo thun ngắn tay màu đen; 01 quần dài màu đen, 01 đôi dép mủ quai ngang màu trắng; 01 áo thun tay ngắn màu trắng phía trước có sọc đỏ đen; 01 quần thun ngắn màu đen; 01 áo thun tay ngắn màu đen; 01 quần jean màu xám đen (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Quách Thành D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, đại diện hợp pháp bị cáo, người bào chữa cho bị cáo

được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP Long Xuyên;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 104/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn Kiệt và đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger