|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2025/LĐ-PT
Ngày 12-11-2025
V/v tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền.
Các Thẩm phán: Ông Phan Trí Dũng;
Ông Huỳnh Văn Luật.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 79/2025/TLPT-LĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do Bản án lao động sơ thẩm số 16/2025/LĐ-ST ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6247/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ánh T, sinh năm 1970; địa chỉ: Số B, Đặng Văn B, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH S3 (Việt Nam); địa chỉ: Số I, đường số B, Khu công nghiệp S, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A P, tổ G, khu F, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 29/10/2025); có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Ngô Thị K, sinh năm 1988; địa chỉ: Số B B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 24/6/2024); có mặt.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng T1 - Luật sư công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
2
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Phước L, sinh năm 1983; trú tại: Khu phố T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Trần Lê Như K1, sinh năm 1988; trú tại: Số F, đường E, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Võ Thị Cẩm D1, sinh năm 1972; trú tại: Số B N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Lê Ngọc Á, sinh năm 1977; trú tại: Tổ A, khu phố E, phường T, tỉnh Đồng Nai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Chaiareelert T2, sinh năm 1970; trú tại: Số I, đường số B, KCN S, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Trương Thị Phương D2, sinh năm 1968; trú tại: Số E, đường L, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị Ánh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm:
* Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Trần Thị Ánh T trình bày:
Bà Trần Thị Ánh T vào làm việc tại công ty TNHH S3 (Việt Nam) (sau đây viết tắt là Công ty S3) từ ngày 03/4/2014 với chức danh Trưởng phòng Hành chính nhân sự và ký Hợp đồng lao động số 1706-01/HĐLĐ ngày 03/6/2017, loại hợp đồng không xác định thời hạn, mức lương chính 30.000.000 đồng/tháng, phụ cấp chức vụ 4.500.000 đồng/tháng, phụ cấp khác 500.000 đồng/tháng, một năm có 12 ngày phép; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp 32,5% lương (trong đó 22% do công ty đóng, người lao động đóng 10,5%) và phụ lục Hợp đồng lao động số 2301-09 ký ngày 01/01/2023 với nội dung thay đổi tiền lương cơ bản lên 40.961.000 đồng và phụ cấp chức vụ 8.077.000 đồng, thời hạn thực hiện từ ngày 01/01/2023, địa điểm làm việc tại trụ sở của Công ty S3, một ngày làm 08 tiếng, một tháng làm 26 ngày. Quá trình làm việc bà T luôn hoàn thành công việc được giao.
Khoảng tháng 6/2023, Công ty S3 có lập kế hoạch tổ chức chuyến đi nghỉ dưỡng. Công ty S3 giao việc tổ chức chuyến đi nghỉ dưỡng của Công ty S3 cho bà K1 - chức vụ: Thư ký Giám đốc điều hành, bà K1 trình ký danh sách tham gia chuyến đi không có thành viên phòng hành chính nhân sự tham gia. Do đó, khoảng 09 giờ 45 phút ngày 19/6/2023 đại diện Công ty S3 mở cuộc họp trong đó có bà T, cùng tham dự có bà Trần Lê Như K1. Đại diện Công ty S3 hỏi bà T tại sao không tham gia chuyến đi nghỉ dưỡng. Bà T trả lời: “như tôi đã trình bày trong các cuộc họp trước, tôi sẽ không tham gia chuyến nghỉ dưỡng lần này nếu công ty chọn đi du lịch biển, do tôi có ám ảnh sâu sắc chuyến đi biển của công ty lần trước đã xảy ra biến cố nghiêm trọng và gây nhiều tổn thất cho công ty”. Tuy nhiên, đại diện Công ty S3 giận dữ đập bàn, chỉ tay với bà T, lý do là bà T không tham gia chuyến đi và yêu cầu bà T phải có trách nhiệm, trong khi Công ty S3 giao quyền tổ chức chuyến đi cho bà K1.
Tiếp tục, vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 20/6/2023 đại diện Công ty S3 mời bà T lên phòng họp cùng với ông Lê Ngọc Á - Trưởng phòng tài chính và ông Teerat C - Giám đốc, thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với bà T và sẽ bồi thường 3,5 tháng lương, nhưng bà T không đồng ý. Sau đó bà T gửi thư tố cáo bà S là người đại diện của Công ty S3 về hành vi vi phạm nhân phẩm đối với bà tới Ban giám đốc và yêu cầu công ty giải quyết nhưng bà S trả lời không quan tâm, không giải quyết vấn đề này.
Ngày 21/6/2023, bà gửi đơn đến Ban chấp hành Công đoàn của Công ty S3 do bà D2 nhận, nhưng cũng chỉ nhận đơn mà không giải quyết. Vào lúc 11 giờ 00 phút ngày 21/6/2023, bà S đã yêu cầu bộ phận Công nghệ thông tin khóa địa chỉ thư điện tử, ngắt kết nối điện thoại bàn, ngăn không cho bà làm việc. Sau đó, lúc 11 giờ 31 phút, phòng Công nghệ thông tin theo chỉ thị của bà S yêu cầu bà bàn giao laptop (máy tính bản là công cụ làm việc công ty cung cấp cho bà khi làm việc) thông báo cho phòng Hành chánh nhân sự không trình bất cứ văn bản nào cần chữ ký của bà vì bà không có thẩm quyền ký bất cứ văn bản nào. Sự việc này làm tổn thất tinh thần, uy tín, danh dự của bà trong lúc bà đang làm việc với chức danh Trưởng phòng Hành chánh nhân sự. Bà S đã có những hành động như trên nên toàn công ty cho rằng bà đã bị công ty đuổi việc. Đến lúc 16 giờ 00 phút cùng ngày, bà S cho mời bà lên phòng họp với thành viên Ban giám đốc thông báo bồi thường cho bà 06 tháng lương và yêu cầu bà viết đơn xin nghỉ việc, ký thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng lao động và ký bản cam kết do công ty S4, nhưng bà không đồng ý và nêu rõ bà vẫn muốn tiếp tục làm việc để tham gia Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đến khi bà đủ tuổi nghỉ hưu. Bà có nói rõ việc Công ty S3 vẫn muốn cho bà nghỉ việc thì ban hành và đưa quyết định nghỉ việc chấm dứt hợp đồng với bà thì bà sẽ rời Công ty S3.
Do không đạt được thỏa thuận với bà đến 18 giờ 04 phút ngày 21/6/2023 bà S nhắn tin yêu cầu bà nghỉ phép từ ngày 22/6/2023 đến ngày 30/6/2023 và yêu cầu bảo vệ thông qua phiên dịch là bà Trần Lê Như K1 rằng nếu bà đến Công ty S3 không cho phép vào. Bà yêu cầu, nếu Công ty S3 không cho bà vào làm việc phải có văn bản rõ ràng và sáng ngày 22/6/2023 bà vẫn đến Công ty S3 đi làm như bình thường.
Vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 22/6/2023, bà S yêu cầu bà vào phòng họp trực tuyến với Giám đốc nhân sự công ty mẹ Srithai S1 tại Thái Lan và cố gắng thuyết phục bà viết đơn xin nghỉ việc và sẽ bồi thường 12 tháng lương, cuộc họp kéo dài từ 08 giờ 00 phút sáng đến 15 giờ 30 phút chiều cùng ngày và không cho bà ra khỏi phòng họp. Sau đó bà S đưa trực tiếp cho bà thư xin lỗi (bản nháp) cùng quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 2307-04/QĐTV có hiệu lực kể từ ngày 22/6/2023 ký bởi bà S. Bà không nhận thư xin lỗi do chỉ là bản nháp, không ghi rõ thư xin lỗi ai. Và vì bà S đã đưa ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 22/6/2023 nên bà rời Công ty S3. Trên quyết định chấm dứt hợp đồng lao động có ghi dòng chữ “Give to Ms Tuyet” là chữ viết của bà Trương Thị Phương D2 – Kế toán trưởng.
Đến ngày 10/7/2023, bà T liên hệ phòng nhân sự của Công ty S3 để nhận bảo lưu quá trình tham gia BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp nhưng Công ty S3 trả lời là chưa có. Ngày 28/7/2023, bà T tiếp tục liên hệ Công ty S3 nhưng Công ty S3 trả lời chưa có. Sau gần 04 tháng, ngày 09/10/2023 nhân viên phòng nhân sự nhắn tin cho bà T đến công ty để nhận bảo lưu quá trình tham gia BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Công ty S3 đã bảo lưu quá trình tham gia của bà T là nghỉ không lương tháng 7 và 8/2023 cùng Quyết định chấm dứt hợp đồng lần thứ hai số 2309-07/QĐTV ký bởi ông Teerat C ký ngày 25/9/2023 lý do là bà T tự ý bỏ việc, đồng thời Công ty S3 chuyển vào tài khoản lương của bà T số tiền lương kỳ 2 tháng 9 là 17.806.338 đồng, cùng lúc bà cũng thông báo cho Công ty S3 sự việc Công ty S3 đang làm là trái pháp luật nhưng Công ty S3 phớt lờ. Do Công ty S3 đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà T trái pháp luật nên bà T khởi kiện, khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty S3 phải bồi thường các khoản gồm:
- Bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật với số tiền là: 49.038.000 đồng x 2 = 98.076.000 đồng;
- Bồi thường 1,5 tháng tiền lương do vi phạm thời gian không báo trước khi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động 45 ngày số tiền là: 49.038.000 đồng x 1,5 = 73.557.000 đồng;
- Bồi thường thiệt hại cho những ngày không được làm việc từ ngày 01/7/2023 đến ngày kết thúc vụ án (ngày xét xử 21/7/2025) là 24 tháng 21 ngày với số tiền: 49.038.000 đồng x 24 tháng 21 ngày = 1.216.519.000 đồng;
- Buộc công ty TNHH S3 nhận bà T trở lại làm việc, trường hợp không nhận bà T lại làm việc thì trả cho bà T ít nhất 02 tháng lương là 49.038.000 đồng x 2 = 98.076.000 đồng;
- Buộc công ty TNHH S3 trả tiền thưởng theo hợp đồng lao động là 49.038.000 đồng x 2 = 98.076.000 đồng;
- Trả tiền những ngày phép năm chưa sử dụng 11.5 ngày số tiền là 49.038.000 đồng/26 x 11.5 ngày = 21.690.000 đồng;
- Bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần là 10 tháng lương cơ sở tương đương: 1.800.000 đồng x 10 tháng = 18.000.000 đồng;
- Buộc công ty TNHH S3 đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bà không được làm việc tính từ ngày 01/7/2023 đến ngày 21/7/2025;
- Yêu cầu bà S - Tổng giám đốc đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai.
Tại phiên tòa, bà T rút lại đối với yêu cầu trả tiền những ngày phép năm chưa sử dụng 11,5 ngày số tiền là 49.038.000 đồng/26 x 11,5 ngày = 21.690.000 đồng.
* Người đại diện hợp pháp của bị đơn là bà Ngô Thị K trình bày:
Thống nhất phần trình bày của bà T về việc hai bên ký kết hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng, công việc phải làm, mức lương, phụ cấp, thời gian, địa điểm làm việc và Quyết định chấm dứt hợp đồng lần thứ hai số 2309-07/QĐTV ngày 25/9/2023.
Từ ngày 21/3/2023 đến ngày 08/5/2023, bà Trần Thị Như K2 – vị trí cũ là Trợ lý Giám đốc sản xuất – ngạch bậc Phó phòng có mong muốn chuyển sang phòng nhân sự. Giám đốc Công ty S3 – bà Suphawadi C1 đã trao đổi với bà T về việc điều chuyển này và cả hai đã thống nhất đồng ý điều chuyển bà K2 từ Trợ lý Giám đốc sản xuất sang Phó phòng nhân sự.
Từ tháng 4/2023 đến tháng 5/2023, nhận thấy bà T làm việc không hiệu quả đối với phần công việc của mình (cụ thể ở đây là việc tổ chức team building cho Công ty S3). Do trước đó, bà K2 cũng đã thực hiện một số công việc của phòng Hành chính nhân sự nên bà S yêu cầu bà K2 hỗ trợ thực hiện team building. Từ ngày 09/6/2023 đến 18/6/2023, bà T và phòng Hành chính nhân sự vẫn tiếp tục thực hiện kế hoạch team building. Mặc dù đã thống nhất với nhau về việc điều chuyển bà K2, nhưng bà T vẫn không thực hiện, bà T không vừa lòng với chỉ đạo từ bà S cho bà K2 hỗ trợ các công việc tại phòng nhân sự.
Ngày 19/6/2023, bà K2 trình danh sách tham gia team building, trong danh sách không có người của phòng Nhân sự (trừ tài xế, tạp vụ thuộc phòng nhân sự). Với cương vị là Trưởng phòng hành chính nhân sự, bà T lại không đăng ký tham gia team building và cũng không một thành viên nào thuộc sự quản lý của bà T tham gia, do đó bà S đã mời bà T lên phòng làm việc trao đổi và chia sẻ vị trí, vai trò, trách nhiệm của phòng Nhân sự nói chung và của bà T nói riêng trong đợt team building, đề nghị bà T cùng tham gia và phân công thêm người hỗ trợ bà T. Tuy nhiên, bà T đã không đồng ý việc sắp xếp này và từ chối tham gia, đồng thời bà T còn lớn tiếng “tôi tự làm được, tôi không cần ai hỗ trợ” và có thái độ thất lễ, bất lịch sự khi chỉ tay vào mặt cấp trên trực tiếp là bà S. Nhận thấy, bà T có hành vi thiếu tôn trọng cấp trên và từ chối công việc thuộc trách nhiệm của mình, Giám đốc Công ty S3 muốn thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động với bà T.
Ngày 20/6/2023, Giám đốc Công ty S3 mời bà T lên làm việc và thoả thuận với bà T viết đơn xin nghỉ việc và sẽ thanh toán cho bà T 3,5 tháng lương nhưng bà T không đồng ý.
Ngày 21/6/2023, Giám đốc Công ty S3 tiếp tục mời bà T lên làm việc và thoả thuận sẽ thanh toán cho bà T 06 tháng lương với điều kiện bà T viết đơn xin nghỉ việc, đồng ý ký thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động và ký bản cam kết về sự việc này. Tuy nhiên, bà T không đồng ý, quay trở lại chỗ làm việc và gửi email bôi nhọ danh dự của Giám đốc Công ty S3 là bà S cho Chủ tịch của công ty mẹ bên Thái Lan cũng như các Giám đốc khác và toàn thể cán bộ nhân viên Công ty S3. Cần phải nói rõ rằng nội dung email mà bà T gửi cho tất cả cán bộ nhân viên Công ty S3 cũng như Công ty S3 mẹ là những nội dung chưa được xác thực, kiểm chứng và chưa có cơ sở để xác minh. Do đó, Giám đốc Công ty S3 đã yêu cầu khóa email làm việc, thu hồi máy tính để bà T không tiếp tục thực hiện các hành vi bôi nhọ danh dự bà S cũng như ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của Công ty S3. Sau đó, bà T rời khỏi Công ty S3.
Ngày 22/6/2023, bà T đến Công ty S3. Giám đốc Công ty S3 mời bà T vào phòng họp và tiếp tục thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động. Tại đây, Công ty S3 tiếp tục đề nghị trả bà T 12 tháng lương cơ bản, không bao gồm phụ cấp nhưng bà T vẫn không đồng ý mà đưa ra yêu cầu 12 tháng lương cơ bản + phụ cấp + yêu cầu bà S phải viết thư xin lỗi bà T do bà S đã “lớn tiếng” với bà T trước đó. Để giải quyết vấn đề và đạt được thỏa thuận với bà T, bà S cũng đã đồng ý với yêu cầu viết thư xin lỗi của bà T. Đối với yêu cầu 12 tháng lương + phụ cấp, nhận thấy số tiền này vượt quá thẩm quyền quyết định nên bà S cần phải có phê duyệt của Chủ tịch Công ty S3 và đề nghị làm việc lại với bà T vào 08 giờ 00 ngày hôm sau. Tuy nhiên, ngay sau khi bà S gửi thư xin lỗi, bà T lập tức chụp hình và gửi Zalo cho toàn bộ cán bộ nhân viên Công ty S3.
Từ ngày 23/6/2023, bà T không đến công ty làm việc và cũng không có thông báo gì cho công ty.
Kể từ ngày 23/6/2023, công ty cũng như bà S không liên hệ được với bà T. Công ty S3 đã nhiều lần liên lạc qua số điện thoại (+84) 939242685 nhưng bà T không phản hồi.
Ngày 08/7/2023, Công ty đã đã gửi văn bản đến bà T với nội dung: “yêu cầu người lao động trình diện và có mặt tại trụ sở Công ty để thực hiện các công việc theo vị trí được phân công. Sau khi có thông báo này mà người lao động vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng cho tới 17 giờ 00 phút ngày 07 tháng 7 năm 2023, công ty sẽ buộc phải tin rằng người lao động không có ý định quay lại làm việc và đã tự ý bỏ việc. Theo đó công ty sẽ thực hiện việc chấm dứt quan hệ lao động theo quy định của pháp luật hiện hành và nội quy của công ty” qua đường bưu điện theo địa chỉ mà bà T đã cung cấp trong hợp đồng lao động, đồng thời thông báo này cũng được Giám đốc Công ty S3 chụp lại và gửi cho bà T qua tin nhắn Zalo.
Ngày 10/7/2023, bà T liên lạc lại với phòng Nhân sự Công ty S3 để hỏi nhận bảo lưu quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Ngày 28/7/2023, bà T đến Công ty S3 hỏi việc chốt sổ bảo hiểm, đại diện Công ty S3 có họp trao đổi lý do vì sao bà T vắng mặt tại công ty từ ngày 03/7/2023 đến ngày 28/7/2023. Thành phần buổi họp gồm có: đại diện Công đoàn bà Võ Thị Cẩm D1 - chức danh Chủ tịch, đại diện phòng Nhân sự là bà Trần Lê Như K1 - chức danh Phó phòng, đại diện pháp chế Công ty S3 là ông Nguyễn Thái S2 và bà Trần Thị Ánh T. Tại buổi họp bà T xác nhận đã không đến Công ty S3 và cắt liên lạc với mọi người từ ngày 23/6/2023, bà T không thông báo hay gửi bất kỳ thông báo nào cho Công ty S3 về lý do nghỉ việc liên tục của mình, đồng thời cũng không có bất cứ đơn xin nghỉ không lương nào gửi đến Công ty S3, lời trình bày của bà T được ghi vào biên bản nhưng bà T không ký tên, đồng thời cũng tại buổi họp đó Công ty S3 có ghi âm lại và được công khai nội dung các đoạn hội thoại trên giấy thông qua Văn phòng T6. Cũng tại buổi họp đó bà T còn yêu cầu Công ty S3 ra Quyết định để bà T được hưởng BHXH. Sau buổi họp, ngày 28/7/2023 bà T cũng không đến Công ty S3, nên ngày 25/9/2023 Công ty tổ chức cuộc họp lấy ý kiến về vụ việc của bà T. Công ty S3 xét thấy bà T tự ý bỏ việc không đến Công ty S3 từ ngày 03/7/2023 và không có ý định tiếp tục làm việc, cũng như không có thiện chí và thiếu sự hợp tác với Công ty S3 để giải quyết vấn đề lao động giữa hai bên nên Công ty S3 đã ra Quyết định về việc cán bộ nhân viên nghỉ việc số 2309-07/QĐTV đối với bà T.
Đối với Quyết định về việc cán bộ nhân viên nghỉ việc số 2307-04/QĐTV ngày 22/6/2023, Công ty S3 hoàn toàn không biết đến sự tồn tại của quyết định này cho đến khi nhận được bộ hồ sơ khởi kiện do bà T gửi. Ngày 22/6/2023 là ngày các bên còn đang thỏa thuận về việc bà T viết đơn xin nghỉ việc để chấm dứt hợp đồng lao động, tuy nhiên các bên chưa đi đến được thống nhất và cấp quản lý trực tiếp của bà T không nhận được đơn xin thôi việc từ bà T. Do đó, quyết định này không được ban hành theo đúng quy trình của Công ty S3 đề ra và quyết định này không có trong hồ sơ lưu trữ của Công ty S3.
Trước các yêu cầu khởi kiện của bà T Công ty S3 không đồng ý vì Công ty S3 không ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng số 2307-04/QĐTV ngày 22/6/2023 đối với bà T. Đối với Quyết định về việc cán bộ nhân viên nghỉ việc số 2309-07/QĐTV ngày 25/9/2023 Công ty S3 ban hành đối với bà T là phù hợp vì bà T đã tự ý không đến Công ty S3 làm việc từ ngày 03/7/2023 đến thời điểm Công ty S3 ban hành Quyết định.
* Người làm chứng ông Lê Ngọc Á – Trưởng phòng tài chính công ty trình bày:
Ông làm Trưởng phòng Tài chính. Giữa tháng 6/2023 ông có tham một buổi họp có bà S, ông T3, bà K1 và bà T. Buổi họp đó diễn ra vào buổi chiều khoảng từ 16 giờ đến 17 giờ và ban Giám đốc chủ trì. Ban Giám đốc có hỏi ý kiến bà T về việc bà T không muốn làm việc tại Công ty S3 nữa thì Công ty S3 sẽ cho nghỉ và bồi thường một khoản tiền. Sau đó bà T đưa ra mức bồi thường là 06 tháng lương nhưng ban Giám đốc đề nghị bà T phải chờ ý kiến của công ty mẹ bên Thái Lan. Buổi họp không đi đến thống nhất gì và từ ngày hôm sau không thấy bà T không đến Công ty S3 làm việc nữa. Ông được biết phòng Hành chính có thư mời bà T đến làm việc, nhưng không thấy bà T đến làm việc nên cuối tháng 9 Công ty S3 có làm quyết định cho bà T nghỉ việc và công ty có đưa quyết định cho bà T nghỉ việc để ông làm thủ tục trả tiền những ngày phép năm còn lại ghi trên quyết định.
* Người làm chứng bà Võ Thị Cẩm D1 trình bày:
Bà làm Tổ trưởng phòng Chất lượng kiêm Chủ tịch Công đoàn Công ty S3. Bà không nhớ chính xác nhưng khoảng cuối tháng 6/2023 bà T có gửi đơn tố cáo bà S, sau khi nhận đơn bà có trao đổi với bà T nên bàn bạc thương lượng với nhau để giải quyết và bà cũng hỏi thêm bà T có cần việc với công đoàn cấp trên không thì bà hỗ trợ nhưng bà T nói không cần và từ đó bà không liên lạc được với bà T. Đến cuối tháng 7/2023 bà T có đến Công ty S3 hỏi nhận bảo lưu quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Công ty S3 có giao cho bà là đại diện công đoàn họp với bà T, nhưng sau buổi họp bà T không ký biên bản.
* Người làm chứng bà Trần Lê Như K1 trình bày:
Hiện bà K1 là Trưởng phòng Hành chính nhân sự của Công ty S3. Bà K1 được biết nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa bà T với Công ty S3 là do thời điểm khoảng tháng 6/2023 Công ty S3 có tổ chức đi du lịch, bà K1 là người nhận đăng ký nhưng phòng Hành chính nhân sự không có ai đăng ký đi nên bà S không hài lòng. Bà S có mời bà T lên phòng hỏi lý do không tham gia thì bà T cho rằng bà K1 thời điểm đó chưa phải là người của phòng Nhân sự nhưng lại được giao làm việc đăng ký đi du lịch mà việc này của phòng Nhân sự, đồng thời bà T cho rằng những năm trước đó Công ty S3 tổ chức đi du lịch biển đã xảy ra tai nạn nên không muốn tham gia. Sau đó, từ ngày 23/6/2023 không thấy bà T đến Công ty S3 làm việc. Bà được giao liên lạc với bà T nhưng không được. Ngày 08/7/2023, Công ty S3 có làm thư mời bà T trở lại làm việc nhưng cũng không thấy bà T đến Công ty S3. Đến ngày 10/7/2023, bà T có liên hệ lại hỏi nhận bảo lưu quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và đến ngày 28/7/2023 bà T đến Công ty S3 gặp bà K1 yêu cầu muốn Công ty S3 chốt sổ bảo hiểm và ra quyết định gì đó với bà T. Ngoài ra bà không biết gì thêm.
* Người làm chứng ông Nguyễn Phước L trình bày:
Ông Nguyễn Phước L làm giám sát bộ phận nhân sự. Ông L được phân công làm những quyết định về hành chính nhân sự như quyết định thôi việc, quyết định bổ nhiệm vị trí trong Công ty S3. Trong phòng làm việc của ông L có bà T, ông L và hai nhân viên T4 và T5. Bà T là Trưởng phòng. Ngày 22/6/2023, ông L đến Công ty S3 làm việc, bình thường các bên trao đổi công việc qua email, hôm đó thì thấy email của bà T không hoạt động. Đến khoảng gần trưa (ông L không nhớ chính xác), bà T có nói ông L làm quyết định thôi việc cho bà T, ông L có hỏi bà T cho thôi việc với lý do gì thì bà T trả lời là chấm dứt hợp đồng lao động. Bình thường ông L làm xong sẽ gửi email cho bà T, nhưng do hôm đó email của bà T không hoạt động nên ông L in ra đưa cho bà T. Bản in ông L đưa bà T chưa có chữ ký và dấu mộc. Ngày hôm sau, 23/6/2023 ông L xin nghỉ phép nên không biết bà T có đi làm hay không. Sau khi bà T không đi làm thì bà K1 tiếp quản công việc và khoảng tháng 9, bà K1 giao cho ông L làm quyết định nghỉ việc cho bà T. Thời điểm bà T còn làm việc thì sau khi ông L soạn thảo xong quyết định ông L sẽ đưa cho bà T5 đi trình ký, đóng mộc, lưu hồ sơ và trả quyết định cho người lao động. Ngoài ra ông L không biết gì khác.
* Người làm chứng ông T2 - Giám đốc kinh doanh Công ty S3 trình bày:
Lý do bà T không làm việc tại Công ty S3 nữa vì giữa bà T và Công ty S3 có một số vấn đề đang trao đổi với nhau, sau đó bà T tự ý nghỉ làm. Ông nhớ tham gia 02 buổi họp giữa ban lãnh đạo Công ty S3 với bà T, trong buổi họp có trao đổi với nhau về việc khắc phục những hạn chế bà T đang vướng để làm việc tốt hơn. Buổi làm việc thứ nhất bà S có trao đổi với bà T nếu tiếp tục làm việc thì phải thay đổi tác phong làm việc, nếu không thay đổi thì tự rời đi. Bà S có nói nếu bà T rời khỏi Công ty S3 thì Công ty S3 sẽ bồi thường cho bà T 06 tháng lương và bà T không đồng ý. Sau đó do bà T đã nghỉ làm không lý do hơn 02 tháng nên ban lãnh đạo Công ty S3 đã họp (họp trực tiếp và họp online vì bà S đang đi công tác tại Hà Nội) và thống nhất ban hành quyết định cho bà T nghỉ và giao cho tôi ký Quyết định số 2309- 07/QĐTV ngày 25/9/2023 về việc cho cán bộ nhân viên nghỉ việc đối với bà T. Ngoài ra Công ty S3 không ban hành quyết định nào khác đối với bà T.
* Người làm chứng bà bà Trương Thị Phương D2:
Trước đây bà Trương Thị Phương D2 làm kế toán trong Công ty S3, trong quá trình làm việc tại Công ty S3 bà D2 không biết lý do vì sao bà T lại nghỉ việc. Đối với Quyết định về việc cán bộ nhân viên nghỉ việc số 2307-04/QĐTV ngày 22/6/2023 thì bà D2 hoàn toàn không biết và chữ viết “give to Ms Tuyết” không phải chữ viết của bà D2.
* Theo Kết luận giám định số 3650/KL-KTHS (TL) ngày 28/8/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận: “Chữ ký mang tên Suphawadi Chanothan dưới mục Giám đốc/Director trên Quyết định về việc cho cán bộ nhân viên nghỉ việc số 2307- 04/QĐTV ngày 22/6/2023 so với chữ ký của Suphawadi Chanothan trên các tài liệu mẫu không phải do cùng một người ký ra”.
* Theo Kết luận giám định số 5611/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phân viện Kỹ thuật hình sự của V tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Suphawadi C1 dưới mục Giám đốc/Director trên tài liệu cần giám định so với chữ ký đứng tên Suphawadi Chanothan trên các tài liệu mẫu so sánh là có phải cùng một người ký ra hay không”.
* Theo Kết luận giám định số 03/KL-KTHS (TL) ngày 20/01/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận: “Hình tròn có nội dung “*M.S.D.N: 3700255640 – C.T.T.N.H.H* TP. DĨ AN- T. BÌNH DƯƠNG CÔNG TY TNHH S3 (VIỆT NAM)” dưới mục Giám đốc trên Quyết định về việc cho cán bộ nhân viên nghỉ việc số 2307- 04/QĐTV ngày 22/6/2023 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu có nguồn gốc từ cùng một con dấu đóng ra”.
* Theo Kết luận giám định số 322/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phân viện Kỹ thuật hình sự của V tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Không đủ cơ sở kết luận chữ viết bằng bút chì có nội dung: “Give to Ms Tuyết” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết đứng tên Trương Thị Phương D2 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là có phải do cùng một người viết ra hay không”.
* Tại Bản án lao động sơ thẩm số 16/2025/LĐ-ST ngày 21-7-2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ánh T đối với yêu cầu công ty TNHH S3 (Việt Nam) trả tiền những ngày phép năm chưa sử dụng 11,5 ngày số tiền là 49.038.000 đồng/26 x 11,5 ngày = 21.690.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ánh T đối với công ty TNHH S3 (Việt Nam) về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 25/7/2025 nguyên đơn bà Trần Thị Ánh T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Ánh T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà T xác định chỉ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, những phần khác bà T không kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị Mộng T1 trình bày:
Căn cứ vào Kết luận giám định số 3650/KL-KTHS (TL) ngày 28/8/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B và Kết luận giám định số 5611/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phân viện Kỹ thuật hình sự của V tại Thành phố Hồ Chí Minh, thì Quyết định số 2307- 04/QĐTV ngày 22/6/2023 do nguyên đơn cung cấp không có giá trị pháp lý. Đồng thời bị đơn cũng không ban hành quyết định này.
Nguyên đơn tự ý nghỉ việc từ ngày 03/7/2023 không thông báo cho bị đơn biết. Ngày 25/9/2023, bị đơn ban hành Quyết định về việc cán bộ nhân viên nghỉ việc số 2309-07/QĐTV đối với nguyên đơn, với lý do: Tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên, là đúng quy định pháp luật. Ngoài ra, bị đơn không ban hành bất cứ quyết định cho thôi việc nào khác đối với nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 16/2025/LĐ-ST ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Ánh T được thực hiện trong thời hạn luật định, nên việc kháng cáo là hợp lệ.
[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây làvụ án “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, bị đơn có trụ sở tại phường D nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 - thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Người làm chứng ông Nguyễn Phước L, bà Trần Lê Như K1, bà Võ Thị Cẩm D1, ông Lê Ngọc Á, bà Trương Thị D2, ông Chaiareelert T2, vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Quá trình tố tụng, các đương sự thống nhất trình bày:
Nguyên đơn vào làm việc tại trụ sở bị đơn từ ngày 03/4/2014, hai bên có ký Hợp đồng lao động ngày 03/6/2017, loại không xác định thời hạn và các phụ lục hợp đồng khác, chức vụ của nguyên đơn là Trưởng phòng hành chính nhân sự. Từ ngày 23/6/2023 nguyên đơn không đến trụ sở bị đơn làm việc.
Ngày 21/6/2023, bà Suphawadi C2 (giám đốc công ty) đã nhắn tin cho nguyên đơn yêu cầu nguyên đơn nghỉ phép từ ngày 22/6/2023 đến hết ngày 30/6/2023. Đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:
Nguyên đơn cho rằng, từ ngày 23/6/2023 nguyên đơn không đến trụ sở bị đơn làm việc, vì ngày 22/6/2023 bà Suphawadi C2 (Giám đốc công ty) giao cho nguyên đơn Quyết định số 2307-04/QĐTV ngày 22/6/2023 về việc cho cán bộ nhân viên nghỉ việc; với lý do: Theo đơn xin; quyết định có hiệu lực từ ngày 22/6/2023 nên nguyên đơn không đến trụ sở bị đơn làm việc từ ngày 23/6/2025. Tuy nhiên, nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ việc bà Suphawadi C2 (giám đốc công ty) giao cho nguyên đơn Quyết định số 2307-04/QĐTV ngày 22/6/2023.
Tại Kết luận giám định số 3650/KL-KTHS (TL) ngày 28/8/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận: “Chữ ký mang tên Suphawadi Chanothan dưới mục Giám đốc/Director trên Quyết định về việc cho cán bộ nhân viên nghỉ việc số 2307- 04/QĐTV ngày 22/6/2023 so với chữ ký của Suphawadi Chanothan trên các tài liệu mẫu không phải do cùng một người ký ra”.
Tại Kết luận giám định số 5611/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phân viện Kỹ thuật hình sự của V tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Suphawadi C1 dưới mục Giám đốc/Director trên tài liệu cần giám định so với chữ ký đứng tên Suphawadi Chanothan trên các tài liệu mẫu so sánh là có phải cùng một người ký ra hay không”.
Như vậy, Quyết định số 2307-04/QĐTV ngày 22/6/2023 không phải do bị đơn ban hành.
[4] Như nhận định tại mục [2], ngày 21/6/2023 bà Suphawadi C2 (Giám đốc công ty) nhắn tin cho nguyên đơn yêu cầu nguyên đơn nghỉ phép từ ngày 22/6/2023 đến hết ngày 30/6/2023. Ngày 01 - 02/7/2023 là ngày nghỉ (thứ bảy, chủ nhật), nên từ ngày 03/7/2023 nguyên đơn phải tiếp tục đi làm, tuy nhiên nguyên đơn đã không đến trụ sở bị đơn làm việc và không có đơn nghỉ phép hay thông báo cho bị đơn là đã vi phạm quy định điểm e khoản 1 Điều 36 Bộ Luật lao động năm 2019.
Ngày 28/7/2023, bị đơn đã lập biên bản họp về việc nguyên đơn không đến trụ sở bị đơn làm việc quá 05 ngày. Ngày 25/9/2023, bị đơn ban hành Quyết định số 2309-07/QĐTV về việc cán bộ nhân viên nghỉ việc, với nội dung: “Chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 25/9/2023; lý do: Tự bỏ việc không có lý do chính đáng từ 05 (năm) ngày làm việc liên tục trở lên” và không báo trước cho nguyên đơn là đúng quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019.
[5] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Ánh T: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[6] Đối với những phần khác của bản án, đương sự không kháng cáo nên phát sinh hiệu lực.
[7] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là có căn cứ chấp nhận.
[8] Xét ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[9] Án phí phúc thẩm: Người kháng cáo được miễn nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị Ánh T.
- Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 16/2025/LĐ-ST ngày 21/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đối với những phần khác của bản án không kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí lao động phúc thẩm: Bà Trần Thị Ánh T được miễn nộp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền |
Bản án số 104/2025/LĐ-PT ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Số bản án: 104/2025/LĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
