Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2025/HSST

Ngày: 10-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Rành;
  2. Ông Huỳnh Công Nhân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thủy Tiên - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thanh T (tên gọi khác: Không); giới tính: N; sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Số B H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số B H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; là con ông Lê Văn B sinh năm 1960 và bà Lê Thị C (chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Hoàng Thanh T1, sinh năm 1992; có 03 người con: lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014.

Tiền án: Bản án số 536/2008/HSPT ngày 11/9/2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 54/2008/HSST ngày 16/5/2008 của Tòa án nhân dân Quận 7, xử phạt Lê Thanh T 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: không;

Nhân thân:

  • Bản án số 135/2008/HSST ngày 10/9/2008 của Tòa án nhân dân quận 7, xử phạt 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản.

Quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều Bản án số 01/2008/QĐ-THHP ngày 16/10/2008 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Bản án 35/2016/HSST ngày 21/01/2016 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Quyết định áp dụng biện pháp xử ký hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 195/2019/QĐ-TA ngày 19/6/2019 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đối với Lê Thanh T 24 tháng, kể từ ngày 27/3/2019, chấp hành xong ngay 25/02/2021.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1990; địa chỉ: Sô G đường H, Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Ông Nguyễn Đắc T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Số G đường H, Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 21/10/2024, Lê Thanh T đến đầu hẻm G Đ, Phường A, Quận D, mua của người đàn ông tên H (không rõ nhân thân lai lịch) 05 gói ma túy với số tiền 500.000 đồng để về sử dụng. Sau đó, T đi xe ôm đến khách sạn S2 tại số C T, phường T, Quận G thuê phòng để ngủ. Sau khi thuê phòng xong, T đi bộ đến gầm cầu T lấy một ít ma túy vừa mua ra sử dụng một mình rồi T quay trở lại khách sạn ngủ qua đêm. Đến 09 giờ 43 phút ngày 22/10/2024, T điện thoại nhờ bạn là Nguyễn Đắc T2 đến chở T về nhà. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày T2 đến đón, T điều khiển xe máy biển số: 59-C2 536.42 chở T2 ngồi sau đi từ hướng Trần Xuân S ra Huỳnh Tấn P, khi đến trước số nhà B đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ tuần tra 363 Công an Q1 kiểm tra phát hiện và bắt quả tang bên trong túi quần phía trước bên phải của T đang mặc có 05 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy.

Kết luận giám định số 12533/KL-KTHS ngày 30/10/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thề rắn, có tổng khối lượng 0,8112g (không phẩy tám một một hai gam), loại Methamphetamine.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 Thông khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Nguyễn Đắc T2 khai nhận: Vào lúc 09 giờ 43 phút ngày 22/10/2024, T2 gọi điện thoại từ số thuê bao 0769505747 của mình đến số thuê bao của T 0706204725 nhưng không thấy bắt máy, đến 11 giờ 10 phút cùng ngày, T gọi lại qua Z nhờ T2 đến địa chỉ số C T, phường T, Quận G, chở T về nhà dùm. Sau đó, T2 điều khiển xe máy biển số: 59-C2 536.42 đến trước nhà số C T đón T. T điều khiển xe máy biển số: 59-C2 536.42 chở T2 đi từ hướng Trần Xuân S ra Huỳnh Tấn P để đi về nhà, khi đi đến trước số nhà B đường T, phường T, Quận G, thì bị Công an Q1 kiểm tra phát hiện bên trong túi quần phía trước bên phải của T đang mặc có 05 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, Công an bắt T2 và T về trụ sở Công an phường T để làm việc. T2 không biết việc T mua và tàng trữ ma túy để sử dụng.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể: Lê Thanh T, Nguyễn Đắc T2 dương tính với ma túy.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Lê Thanh T:

  • 05 gói nylon nhỏ chứa tinh thể rắn không màu.
  • 01 điện thoại di động hiệu Galaxy A7, số thuê bao 0706204725, số Imei 1: 351580103930885, số Imei 2: 351581103930883.

- Thu giữ của Nguyễn Đắc T2:

  • 01 điện thoại hiệu iphone 7 plus, số thuê bao 0769505747, số Imei: 353809086758098, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả điện thoại trên cho T2.
  • 01 xe máy hiệu Honda LEAD màu trắng, biển số 59C2-536.42, số Khung: 4514FY025280; số máy: JF45E0572613. Qua xác minh do bà Nguyên Thị C2, đứng tên chủ sở hữu. Ngày 22/10/2024, Nguyễn Đắc T2 lấy xe đi và đưa cho T điều khiển, bà C2 không biết. Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an Thành phô H đã ra Quyêt định xử lý vật chứng trả xe trên cho bà C2.

Bản cáo trạng số 88/CT-VKS-Q7 ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Lê Thanh T có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thanh T mức hình phạt từ 02 đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử lý vật chứng theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì, bị cáo biết lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: vào Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 21/10/2024, tại trước số nhà B đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, tổ tuần tra 363 Công an Q1 kiểm tra phát hiện bắt quả tang Lê Thanh T giấu trong túi quần phía trước bên phải 05 gói nilon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy. Theo Kết luận giám định số 12533/KL - KTHS ngày 30/10/2024 kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,8112g (không phẩy tám một một hai gam), loại Methamphetamine. Nên hành vi của bị cáo Lê Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta về chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội đồng thời gián tiếp là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, nhân thân xấu, trước đó từng phạm nhiều tội khác nhau nhưng khi chấp hành án xong trở về lại tiếp tục phạm tội. Nên Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý nghiêm minh, có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đồng thời cũng nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trên địa bàn.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Lê Thanh T có tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Nên áp dụng điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để lượng hình. Từ suốt quá trình điều tra đến phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Gói niêm phong bên ngoài chó chữ ký ghi tên Lê Thanh T; Nguyễn Xuân S1 – Cán bộ PC09 Công an Thành phố H (mẫu vật còn lại sau giám định) là ma túy, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 điện thoại di động hiệu Galaxy A7, số thuê bao 0706204725, số Imei 1: 351580103930885, số Imei 2: 351581103930883, của bị cáo T, bị cáo không sử dụng làm phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- Thu giữ của Nguyễn Đắc T2:

  • 01 điện thoại hiệu iphone 7 plus, số thuê bao 0769505747, số Imei: 353809086758098 thu giữ của Nguyễn Đắc T2, đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H trả lại cho T2 nên không xét.
  • 01 xe máy hiệu Honda LEAD màu trắng, biển số 59C2-536.42, số Khung: 4514FY025280; số máy: JF45E0572613. Qua xác minh do bà Nguyên Thị C2, đứng tên chủ sở hữu. Ngày 22/10/2024, Nguyễn Đắc T2 lấy xe đi và đưa cho T điều khiển, bà C2 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Q định xử lý vật chứng trả xe trên cho bà C2 nên không xem xét.

[6] Đối với người đàn ông tên H (không rõ nhân thân lai lịch) bán ma tủy cho T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Đắc T2 là người chở T về nhà, không biết T tang trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không xử lý là có căn cứ.

[7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024.

  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
    • Tịch thu tiêu huỷ: Gói niêm phong bên ngoài chó chữ ký ghi tên Lê Thanh T; Nguyễn Xuân S1 – Cán bộ PC09 Công an Thành phố H (mẫu vật còn lại sau giám định)
    • Trả lại cho bị cáo Lê Thanh T 01 điện thoại di động hiệu Galaxy A7, số seri R58K4LGH8Y, số Imei 1: 351580103930885, số Imei 2: 351581103930883, đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản V/v giao, nhận vật chứng tài sản số 86 ngày 04/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).

  1. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  2. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - VKSND Quận 7;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa – phân trại tạm giam Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS (TK Đức).

TAND QUẬN 7

WVJ100625.TL.QDBA

1456

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thu Trang

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Số: 104A/2025/TB-TA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quận 7, ngày 30 tháng 6 năm 2025

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 44, Điều 260 và Điều 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2025/HS-ST ngày 10/6/2025 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh có sai sót về chính tả cần được sửa chữa và bổ sung như sau:

  1. Về nội dung:
  2. 1.1 Dòng 08 từ trên xuống trang số 02 của Bản án sơ thẩm đã ghi

    “Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/10/2024”

    Nay được sửa chữa như sau:

    “Bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024”

    1.2 Dòng 01 từ dưới lên của trang 05 của Bản án sơ thẩm cần bổ sung thêm nội dung:

    “…………………Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024”.

  3. Phần được bổ sung là một phần của nội dung Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2025/HS-ST ngày 10/6/2025 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Cơ quan thi hành án cùng cấp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (Đức).
  • (Hồ sơ Lê Thanh Thông)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2025/HSST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 104/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 02 NĂM TÙ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger