TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2025/HSPT Ngày 16-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng
Ông Đặng Chí Công
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 121/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Trần S do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 124/2025/HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1-Gia Lai.
* Bị cáo có kháng cáo: T. Sinh ngày 01/01/1969, tại tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Tổ B, khu phố A, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định (Nay là tổ B, khu phố A, phường Q, tỉnh Gia Lai); Số CCCD: [...], cấp ngày 08/5/2023; nghề nghiệp: Xe ôm; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông (không rõ) và bà Trần Thị K (đã chết). Bị cáo có vợ là Mai Thị Tố N và có 03 con lớn nhất sinh năm 1989 và nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 21/01/1980 bị công an tỉnh N bắt về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Điều 155), ngày 25/01/1981 được công an tỉnh N lập danh chỉ bản với tên Nguyễn Văn P (sinh năm 1970), địa chỉ: N, T, Quảng Nam Đ. Qua giám định vân tay trên danh bản, chỉ bản do công an tỉnh N lập với vân tay trên danh bản, chỉ bản do công an phường T, thành phố Q lập với tên Trần Sơn L cùng một người.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Bùi Văn P1 – thuộc Công ty L1.
Địa chỉ: F N, phường Q, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 11.01.2025 tại trước cửa hàng bán đồ chơi “O Nhi” trước siêu thị C thuộc khu phố G, phường T, TP ., em Nguyễn Võ Hoàng N1 có đeo một balo phía sau lưng, để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng có ốp lưng bằng nhựa màu đen-xanh tại ngăn bên phải của balo. Trong lúc, em N1 đang ngồi lên xe mô tô do em Dương Tuấn K1 điều khiển để chở đi thì bị cáo Trần Sơn Đ gần đó quan sát thấy điện thoại trong ngăn bên phải balo của em N1 nên lén lút lấy điện thoại Iphone 12 Pro Max rồi cất vào túi quần, sau đó cất giấu vào cốp xe mô tô BKS 77L1-537.39 và đem về nhà. Khoảng 10 giờ ngày 12.01.2025, bị cáo S giao nộp lại cho Công an phường T với lý do nhặt được. Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, N1 và K1 đến trụ sở Công an phường T trình báo sự việc mất điện thoại.
- Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, dung lượng 128BG, đã qua sử dụng, trị giá vào thời điểm chiếm đoạt là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). 01 (một) ốp lưng bằng nhựa dẻo màu đen – xanh, loại dùng cho điện thoại di động, đã qua sử dụng, có giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q đã tạm giữ và xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu giao trả lại: 01 (một) diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, dung lượng 128BG, đã qua sử dụng và 01 (một) ốp lưng bằng nhựa dẻo màu đen – xanh, loại dùng cho điện thoại di động, đã qua sử dụng cho Nguyễn Võ Hoàng N1.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 124/2025/HS-ST ngày 17-6-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần S phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần S 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.
3. Kháng cáo của bị cáo
Ngày 22-6-2025 bị cáo Trần S kháng cáo xin được hưởng án treo.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
Luật sư vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm và có gửi luận cứ bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi lấy trộm điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max của em Nguyễn Võ Hoàng N1, bị cáo không kháng cáo về tội danh nên phần này đã có hiệu lực pháp luật. Cấp phúc thẩm không xem xét.
- Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo:
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, bị cáo từng bị bắt vào năm 1980 về hành vi “Trộm cắp tài sản” nên không được xem là tiền án, tiền sự nhưng vẫn xét bị cáo có nhân thân xấu. Ngày xảy ra vụ án là ngày 11/01/2025 bị hại sinh ngày 21/4/2009, lúc này bị hại chưa đủ 16 tuổi, lẽ ra cấp sơ thẩm phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo mới phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ áp dụng tình tiết này khi quyết định hình phạt.
Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm bị cáo gửi Đơn xin xác nhận của UBND phường Q về nơi cư trú, về nhân thân, hoàn cảnh gia đình và tình trạng sức khỏe của bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, giá trị của tài sản bị chiếm đoạt và tuyên 06 tháng tù là mức án đấu không nhất thiết đối với bị cáo là phù hợp nên dù có phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới thì việc cho bị cáo hưởng án treo không có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, giúp ích cho xã hội, vì vậy buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù để bị cáo có thời gian nhìn nhận lại hành vi của bản thân và chuyên tâm cải tạo và trở thành người tốt hơn khi trở về hòa nhập cộng đồng, cũng như làm gương cho người khác.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, bị hại không kháng cáo, vụ án cũng không bị kháng nghị nên dù có thiếu sót trong việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng xét thấy mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp nên đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm, đồng thời Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Đối với kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015,
- Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 124/2025/HS-ST ngày 17-6-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai về phần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 124/2025/HS-ST ngày 17-6-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai về phần hình phạt.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần S 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Nguyễn Tiến Sỹ |
Bản án số 104/2025/HSPT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 104/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án
