|
TÒA ÁN NHÂN DÂNKHU VỰC 11 - TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2025/HS-ST Ngày: 31 – 12 – 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hữu Thiện
- Ông Mai Văn Tự
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Liêm, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tuấn Kiệt - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105 /2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Văn P;
Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam. Sinh ngày 16 tháng 3 năm 1998, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi thường trú: Ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh. Nơi ở hiện tại: Ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 6/12. Con ông: Trần Văn N, sinh năm 1956 (còn sống); con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1955 (còn sống); bị cáo có vợ Hoàng Lê Thùy T, sinh năm 1995. Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2021, nhỏ nhất sinh năm 2024.
- Bị can bị tạm giữ ngày 13/9/2025, đến ngày 22/9/2025 bị tạm giam, tại Phân trại tạm giam khu vực VI (nay là P1 trại tạm giam T) - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T.
- Tiền án, tiền sự: Không có.
- Nhân thân: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 13/QĐ-TA ngày 02/4/2019 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (nay là Toà án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh), thời hạn cai nghiện bắt buộc 15 tháng; chấp hành xong ngày 16/01/2020; đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn P là người nghiện ma túy, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 10 giờ ngày 10/9/2025, P gọi điện thoại qua ứng dụng M cho người tên T1, (không rõ nhân thân, sử dụng tài khoản Messenger “Ty Dang”) hỏi mua 1.600.000 đồng ma túy, người tên T1 đồng ý bán và nói sẽ mang ma túy đến nhà giao cho P. Khoảng 40 phút sau, người tên T1 đến nhà của P tại ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh và bán cho P 01 một bịch nylon bên trong có chứa 01 một bịch ma túy với giá 1.600.000 đồng. Sau đó, P đem ma túy vào phòng ngủ lấy một phần ra sử dụng, phần ma túy còn lại P cất giấu trên thùng loa tại góc tường trong phòng ngủ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, P tiếp tục lấy một phần ma tuý ra sử dụng một mình. Sau khi sử dụng xong, P cất tẩu thủy tinh còn ma tuý cùng với số ma túy còn lại trên thùng loa. Đến 11 giờ 40 phút ngày 13/9/2025, trong lúc P đang ở nhà thì bị Công an xã T, tỉnh Tây Ninh kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ: 01 bịch nylon được hàn kín ba đầu, một đầu có khóa bóp viền màu trắng bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong (ký hiệu M1); 01 ống thủy tinh dạng phễu bên trong có chứa chất bám dính màu nâu, được niêm phong (ký hiệu M2) và các vật chứng khác có liên quan.
Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với P vào ngày 13/9/2025 thể hiện: Dương tính chất ma túy loại Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số 1835/KL-KTHS ngày 17/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) bên trong 01 bịch nylon được hàn kín ba đầu, một đầu có khóa bóp viền màu trắng chứa tinh thể rắn màu trắng gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 3,7247 gam; Mẫu chất màu nâu (ký hiệu M2) bên trong 01 ống thủy tinh dạng phễu gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng không xác định được vì mẫu quá ít.
Quá trình điều tra, P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng:
- 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1835/M1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1; trợ lý giám định Tạ Minh P2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1835/M2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1; trợ lý giám định Tạ Minh P2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 (một) quẹt gas màu trắng
- 01 (một) quẹt gas màu xanh - trắng
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Realme 10 Pro+, màu trắng, số Imei 1: 862734063583935, số Imei 2: 862734063583927.
Về kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện P không có sở hữu tài sản riêng nên Cơ quan điều tra không kê biên.
* Quá trình điều tra Trần Văn P khai nhận đã mua ma túy của người tên T1 chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên chưa làm việc được khi nào làm rõ xử lý sau.
Bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với trọng lượng là 3,7247 gam (ba phẩy bảy hai bốn bảy gam).
* Tại Bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSDMC ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đã truy tố Trần Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 06 ( sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù,.
Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1835/M1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1; trợ lý giám định Tạ Minh P2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1835/M2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1; trợ lý giám định Tạ Minh P2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 (một) quẹt gas màu trắng
- 01 (một) quẹt gas màu xanh - trắng
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Realme 10 Pro+, màu trắng, số Imei 1: 862734063583935, số Imei 2: 862734063583927.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát;
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Vào ngày 13/9/2025 tại ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh, Trần Văn P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 3,7247 gam để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Xét thấy, lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng nhằm để thỏa mãn cơn nghiện, đây cũng là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về nhân thân: Bị cáo Trần Văn P đã bị Tòa án nhân dân Huyện Tân Biên (nay là Toà án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 16/01/2020. Bị cáo đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
[4.2] Tình tiết tăng nặng: Không có
[4.3] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản và không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn P, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng nên không đặt ra giải quyết.
* Quá trình điều tra, Trần Văn P khai nhận đã mua ma túy của người tên T1 nhưng chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên chưa làm việc được khi nào làm rõ xử lý sau.
[6] Từ những nhận định trên, nhận thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đề nghị là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1835/M1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1; trợ lý giám định Tạ Minh P2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T
- 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1835/M2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1; trợ lý giám định Tạ Minh P2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 (một) quẹt gas màu trắng
- 01 (một) quẹt gas màu xanh - trắng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 – 9 – 2025.
-
Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1835/M1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1; trợ lý giám định Tạ Minh P2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T
- 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1835/M2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1; trợ lý giám định Tạ Minh P2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.
- 01 (một) quẹt gas màu trắng
- 01 (một) quẹt gas màu xanh - trắng
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Realme 10 Pro+, màu trắng, số Imei 1: 862734063583935, số Imei 2: 862734063583927.
Vật chứng nêu trên hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 Tây Ninh đang quản lý.
-
Án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Tiến |
Bản án số 104/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 104/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Trần Văn Phú phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Văn Phú 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 – 9 – 2025.
