Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 104/2025/HS-ST

Ngày: 29/5/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Ánh
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Hồ Thị Kim Luyến
    2. Bà Nguyễn Minh Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hữu Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2025/TLST-HS, ngày 14 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 360/2025/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 145/2025/HSST-QĐ, ngày 13 tháng 5 năm 2025; Đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: VÕ THỊ THANH L; - Giới tính: Nữ;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 15 tháng 3 năm 1994; - Nơi sinh: Cà Mau;
    • - ĐKTT: Khóm 1, thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
    • - Chỗ ở: Số C, hẻm L tổ D, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh;- Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Làm thuê;
    • - Họ và tên cha: Võ Ngọa L1, sinh năm: 1946;
    • - Họ và tên mẹ: Dư Thị Liễu H, sinh năm: 1952;
    • - Chị ruột: Có 01 người;
    • - Bị cáo chưa có chồng, con;
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  2. Họ và tên: NGUYỄN TẤN L2; - Giới tính: Nam;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 01 tháng 01 năm 2001; - Nơi sinh: Cần Thơ;
    • - ĐKTT: Số 161/1, khu vực Yên Hòa, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Không;
    • - Họ và tên cha: Nguyễn Tấn P, sinh năm: 1962;
    • - Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm: 1965;
    • - A, chị, em ruột: Có 01 người;
    • - Bị cáo chưa có vợ, con;
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  3. Họ và tên: TRẦN QUỐC A; - Giới tính: Nam;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 24 tháng 8 năm 2003; - Nơi sinh: Cần Thơ;
    • - ĐKTT: SỐ 53/32A, đường Nguyễn Việt Dũng, phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Sinh viên;
    • - Họ và tên cha: Trần Văn H1, sinh năm: 1972;
    • - Họ và tên mẹ: Vương Thị O, sinh năm: 1977;
    • - Em ruột có 01 người;
    • - Bị cáo chưa có vợ, con;
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  4. Họ và tên: NGUYỄN QUỐC T; - Giới tính: Nam;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 09 tháng 11 năm 1994; - Nơi sinh: Cần Thơ;
    • - ĐKTT: Số 158/50, đường Nguyễn Việt Hồng, phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ;
    • - Chỗ ở: Số A, đường X, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Buôn bán;
    • - Họ và tên cha: Nguyễn Thanh C, sinh năm: 1955;
    • - Họ và tên mẹ: Nguyễn Phương Lệ U, sinh năm: 1969;
    • - A, em ruột: Có 02 người;
    • - Bị cáo chưa có vợ, con;
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  5. Họ và tên: TRẦN QUỐC C1; - Giới tính: Nam;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 17 tháng 11 năm 2000; - Nơi sinh: Trà Vinh;
    • - ĐKTT: Ấp Đức Hiệp, xã Đức Mỹ, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do;
    • - Họ và tên cha: Trần Văn N, sinh năm: 1968;
    • - Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1971;
    • - Anh ruột: Có 02 người;
    • - Bị cáo chưa có vợ, con;
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  6. Họ và tên: BÙI VĂN D; - Giới tính: Nam;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 19 tháng 04 năm 1995; - Nơi sinh: Hậu Giang;
    • - ĐKTT: Ấp Long Hưng 1, xã Tân Phú, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang;
    • - Chỗ ở: Đường A, khu dân cư H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Làm thuê;
    • - Họ và tên cha: Bùi Văn D1, sinh năm: 1978;
    • - Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Kiều T1, sinh năm: 1975;
    • - Em ruột: Có 01 người;
    • - Bị cáo chưa có vợ, con;
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  7. Họ và tên: HOÀNG MẠNH H3; - Giới tính: Nam;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 18 tháng 11 năm 2001; - Nơi sinh: Sóc Trăng;
    • - ĐKTT: Số 749B, đường Phạm Hùng, Phường 8, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng;
    • - Chỗ ở: Tổ D, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Không;
    • - Họ và tên cha: Hoàng Minh T2, sinh năm: 1976;
    • - Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1975;
    • - Em ruột: Có 01 người;
    • - Bị cáo chưa có vợ, con;
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  8. Họ và tên: NGUYỄN HUY M; - Giới tính: Nam;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 18 tháng 03 năm 1986; - Nơi sinh: Vũng Tàu;
    • - ĐKTT: Số 125, đường Nguyễn Đệ, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ;
    • - Chỗ ở: Số A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Kinh doanh;
    • - Họ và tên cha: Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1959;
    • - Họ và tên mẹ: Võ Thị Minh H4, sinh năm: 1960;
    • - A, chị, em ruột: Có 01 người;
    • - Vợ: Võ Việt H5 (đã ly hôn);
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  9. Họ và tên: LÂM HẢI SÁNG; - Giới tính: Nam;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 14 tháng 4 năm 1998; - Nơi sinh: Cần Thơ;
    • - ĐKTT: Số 7/6, đường Bùi Hữu Nghĩa, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh;- Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Không;
    • - Họ và tên cha: Lâm Hồng S, sinh năm: 1972;
    • - Họ và tên mẹ: Nguyễn Hải Y, sinh năm: 1969;
    • - A, chị, em ruột: Không;
    • - Bị cáo chưa có vợ, con;
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  10. Họ và tên: LÊ VĂN T4; - Giới tính: Nam;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 03 tháng 4 năm 1998; - Nơi sinh: Phú Thọ;
    • - ĐKTT: Tổ 1, khu phố 7, phường Uyên Hưng, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương;
    • - Chỗ ở: Số F, khu dân cư T, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Không;
    • - Họ và tên cha: Lê Văn T5, sinh năm: 1977;
    • - Họ và tên mẹ: Đàm Thị K, sinh năm: 1978;
    • - A, chị, em ruột: Không;
    • - Bị cáo chưa có vợ, con;
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N, trong vụ án khác (bút lục: 223-295). (Có mặt)
  11. Họ và tên: TRIỆU NGUYỄN TRỌNG N2;- Giới tính: Nam;

    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 05 tháng 01 năm 2000; - Nơi sinh: Tây Ninh;
    • - ĐKTT: Ấp Phước Tân 1, xã Phan, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh;
    • - Chỗ ở: Nhà T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Sinh viên;
    • - Họ và tên cha: Triệu Văn K1, sinh năm: 1973;
    • - Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T6, sinh năm: 1972;
    • - Em ruột: Có 01 người;
    • - Bị cáo chưa có vợ, con;
    • - Tiền án, tiền sự: Chưa;
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Người bào chữa:

  • - Luật sư Nguyễn Thanh C, công tác tại Công ty L3.
  • Địa chỉ: Số A, đường C, phường T (phường A cũ), quận N, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)
  • Là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc T.
  • - Luật sư Ngô Hồng T7, công tác tại Công ty L4.
  • Địa chỉ: Số B, đường V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)
  • Là người bào chữa cho bị cáo Triệu Nguyễn Trọng N2.
  • - Luật sư Bùi Duy H6, công tác tại Đoàn luật sư tỉnh B.
  • Địa chỉ: Đường D, tổ A, Khu phố A, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
  • Là người bào chữa cho bị cáo Lê Văn T4.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/5/2024, Đội kiểm tra liên ngành 814 thành phố Cần Thơ kiểm tra quán cà phê số A, đường X, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ phát hiện tại lầu 2 có hoạt động tổ chức đánh bạc và đánh bạc bằng hình thức tổ chức chơi bài Poker ăn thua bằng tiền, Đội kiểm tra liên ngành 814 thành phố Cần Thơ phối hợp với Phòng C2 Công an thành phố C tiến hành mời 11 người đang có mặt và tham gia chơi bài Poker ăn thua bằng tiền về trụ sở Phòng C2 Công an thành phố C để xác minh làm rõ, xử lý theo đúng quy định pháp luật.

Vật chứng tạm giữ:

  • + 02 bàn dùng để chơi Poker;
  • + 18 ghế bằng kim loại màu trắng;
  • + 04 bộ bài tây 52 lá;
  • + 01 miếng thủy tinh hình tròn có chữ Dealer;
  • + 28 miếng hình vuông có chữ T11;
  • + 01 hộp đựng Poker bên trong có: 03 chip màu trắng mệnh giá 01; 40 chip màu xanh mệnh giá 01; 90 chip màu đỏ mệnh giá 05; 60 chip màu xanh mệnh giá 10; 67 chip màu xanh mệnh giá 25; 22 chip màu cam mệnh giá 50;
  • + 01 hộp đựng Poker màu đen, bên trong gồm: 02 chip màu xanh lam mệnh giá 10; 13 chip màu xanh dương mệnh giá 50; 02 chip màu xanh mệnh giá 100; 36 chip mệnh giá 500; 09 chip mệnh giá 1000; 10 chip mệnh giá 2000; 01 miếng thủy tinh tam giác có chữ ALLIN; 01 miếng kim loại hình tròn màu vàng; 06 hột xí ngầu;
  • + 01 hộp đựng Poker màu bạc, bên trong gồm: 158 chip mệnh giá 500;
  • + 01 hộp bằng kim loại màu đen, bên trong có: 03 chip mệnh giá 50;
  • + 01 dụng cụ để gom chip;
  • + T8 trên người của Võ Thị Thanh L gồm: 01 điện thoại di động chưa rõ nhãn hiệu; 01 máy Laptop hiệu Acer mã số 70181752 có dây sạc kèm theo; 01 xe máy biển số 69D1 - 20688; 01 tờ tiền USD mệnh giá 02 USD seri: L25864168A; 01 tờ tiền USD mệnh giá 02 USD seri: H05705739A; 01 viết bị đã qua sử dụng; 01 thẻ hình đồng hồ; 09 hóa đơn bán hàng của cửa hàng C3; 09 chip mệnh giá 5; 19 chip mệnh giá 10; 20 chip mệnh giá 20; 07 chip mệnh giá 50; 08 chip mệnh giá 100; 08 chip mệnh giá 200;
  • tổng số điểm chip là 3.385 (tương đương 3.385.000 đồng; L đã thua 500 điểm tương đương 500.000 đồng).
  • + T8 trên người của Nguyễn Tấn L2 gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số imei: 35918610337478552; 01 chip mệnh giá 5; 03 chip mệnh giá 10; 01 chip mệnh giá 100; 04 chip mệnh giá 200; 02 chip mệnh giá 500; 02 lá bài tây; số điểm chip là 1.935 (tương đương 1.935.000 đồng; trong đó L2 thắng với số điểm là 1.435, tương đương với 1.435.000 đồng).
  • + T8 trên người của Trần Quốc A gồm: 52 lá bài có chữ WPT màu đỏ; 42 lá bài có chữ WPT màu xanh; 01 miếng thủy tinh hình tam giác có chữ ALLIN; 02 thẻ hình chữ nhật có chữ Time màu vàng; 07 chip mệnh giá 200; 19 chip mệnh giá 5; 15 chip mệnh giá 20; 09 chip mệnh giá 10; 03 chip mệnh giá 100; 01 miếng tròn có chữ Dealer; tổng số điểm chip là 2.185 dùng để đổi chip lẻ cho người chơi.
  • + T8 trên người của Trần Quốc C1 gồm: 01 chip mệnh giá 5; 03 chip mệnh giá 10; 03 chip mệnh giá 20; 06 chip mệnh giá 50; 01 chip mệnh giá 100; 01 chip mệnh giá 200; tổng số điểm chip là 695 (tương đương với 695.000 đồng; C1 đã thua với số điểm 305, tương đương 305.000 đồng).
  • + T8 trên người của Lâm Hải S1 gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số imei: 354786253384594; tiền Việt Nam: 200.000 đồng và 01 chip mệnh giá 20; 06 chip mệnh giá 50; 04 chip mệnh giá 200; 01 chip mệnh giá 100; tổng số điểm chip là 1.220 (tương đương 1.220.000 đồng; trong đó S1 thắng 220 điểm, tương đương 220.000 đồng).
  • + T8 trên người của Lê Văn T4 gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imei: 358849702645993; 01 chip mệnh giá 5; 02 chip mệnh giá 50; 11 chip mệnh giá 100; 06 chip mệnh giá 200; tổng số điểm chip là 2.405 (tương đương 2.405.000 đồng; trong đó T4 thắng 1.405 điểm, tương đương 1.405.000 đồng).
  • + Thu giữ trên người của Bùi Văn D gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, seri: 86992905401574; 01 một xe mô tô, biển số: 95B1 - 50548; 01 chip mệnh giá 5, 03 chip mệnh giá 10; 01 chip mệnh giá 50; 01 chip mệnh giá 100; 02 chip mệnh giá 500; tổng số điểm chip là 1.185 (tương đương 1.185.000 đồng; trong đó D thắng 185 điểm, tương đương với 185.000 đồng).
  • + T8 trên người của Nguyễn Huy M gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imei: 356568100981824; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone; 02 chip mệnh giá 5; 01 chip mệnh giá 10; 01 chip mệnh giá 50; 09 chip mệnh giá 200; tổng số điểm chip là 1.870 (tương đương 1.870.000 đồng; trong đó M thắng 870 điểm, tương đương 870.000 đồng).
  • + T8 trên người của Hoàng Mạnh H3 gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, seri: 86035906427224700; 06 chip mệnh giá 5; 01 chip mệnh giá 20; 01 chip mệnh giá 50; 10 chip mệnh giá 100; 02 chip mệnh giá 1000; tổng số điểm chip là 3.100 (tương đương 3.100.000 đồng; trong đó H3 thắng 2.100 điểm tương đương 2.100.000 đồng).
  • + Thu của Triệu Nguyễn Trọng N2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số imei: 356041401895663; 01 xe mô tô, biển số 70G1 - 61844; tiền Việt Nam: 9.000.000 đồng, trong đó có 200.000 đồng Nghĩa dùng mua thẻ đánh bạc.

Tổng số điểm chip thu giữ của các bị cáo là 18.180 điểm, trong đó có 15.995 điểm, tương đương 15.995.000 đồng sử dụng để đánh bạc ăn thua với nhau, 2.150 điểm thu của bị cáo A chỉ để đổi chíp có số điểm nhỏ và 450 điểm, tương đương 450.000 đồng là tiền xâu của ngày 28/5/2024 (bút lục: 01 - 06, 135 - 216, 291 - 294).

Tại Cơ quan điều tra 02 bị cáo Võ Thị Thanh L và Nguyễn Tấn L2 khai nhận: 02 bị cáo thuê 01 phòng ở tầng 2 nhà số A, đường X, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ của bị cáo Nguyễn Quốc T từ tháng 4/2024 cho đến khi bị bắt, để tổ chức đánh bạc bằng hình thức đánh bài P1 thắng thua bằng tiền (trong phòng có sẵn 02 bàn chơi bài Poker của T), lợi nhuận thu được sẽ chia đều. Bị cáo L thuê Trần Quốc A làm nhiệm vụ chia bài cho người chơi đánh bạc và thu tiền xâu, sau mỗi buổi đánh bạc thì bị cáo L sẽ trả tiền công chia bài cho bị cáo A từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng tùy vào thời gian chơi của người đánh bạc. 02 bị cáo L, L2 rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác đến đánh bạc để thu tiền xâu với quy định kết thúc mỗi ván bài thì người thắng sẽ trả tiền xâu cho bị cáo Trần Quốc A là 50 chip, tương đương 50.000 đồng. Trung bình mỗi ngày có khoảng 08 - 10 khách đến đánh bạc và trong khoảng thời gian tổ chức đánh bạc, 02 bị cáo L, L2 thu lợi được từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Ngoài ra, 02 bị cáo còn tham gia chơi đánh bạc chung với các bị cáo khác để chim mồi, ngày 28/5/2024, bị cáo L đã sử dụng 3.885 điểm chip, tương đương 3.885.000 đồng để đánh bạc và đã thua 500 điểm, tương đương 500.000 đồng; bị cáo L2 sử dụng 500 điểm chip, tương đương 500.000 đồng để đánh bạc và đã thắng được 1.435 điểm, tương đương 1.435.000 đồng, trong lúc chơi, bị cáo L đã thưởng 5.660 điểm chip cho: Hoàng Mạnh H3 (3.000 điểm) và Nguyễn Huy M (2.660 điểm) tiền trúng Jackpot; sau khi các bị cáo đánh hết ván bài thứ 09 thì bị cáo Triệu Nguyễn Trọng N2 nghỉ chơi và đổi lại của bị cáo L 200 điểm tương đương 200.000 đồng thì lúc này có lực lượng Công an đến phát hiện, lập biên bản. Tiền thu xâu của ngày 28/5/2024 là 450.000 đồng (bút lục: 313 - 398).

Bị cáo Trần Quốc A khai được bị cáo L thuê làm nhiệm vụ chia bài cho người chơi và thu tiền xâu, tổng số tiền bị cáo được bị cáo L trả công là 2.000.000 đồng. Ngày 28/5/2024, bị cáo L đưa cho bị cáo giữ các loại chíp lẻ, tổng cộng là 2.185 điểm để đổi cho người chơi khi người chơi cần đổi chíp lớn thành nhiều chíp lẻ; khi kết thúc ván bài thứ 09 thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, lập biên bản.

Bị cáo Nguyễn Quốc T khai nhận: Bị cáo cho bị cáo L và L2 thuê 01 phòng ở tầng 2 nhà số A, đường X, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, trong phòng có sẵn 02 bàn P1 để tổ chức cho người khác đánh bạc thắng thua bằng tiền; bị cáo thu tiền thuê bàn Poker từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng tùy theo thời gian chơi; ngoài ra, khi người chơi đến đánh bạc thì bắt buộc phải gọi nước uống của quán bị cáo, bị cáo L sẽ trả tiền và nếu khách đánh bạc quá 23 giờ thì bị cáo sẽ thu thêm tiền giữ xe chung là 200.000 đồng, đồng thời phụ thu thêm 300.000 đồng tiền thuê bàn Poker. Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính khoảng 800.000 đồng (bút lục: 349-356).

Các bị cáo Bùi Văn D, Nguyễn Huy M, Lê Văn T4, Lâm Hải S1, Triệu Nguyễn Trọng N2, Hoàng Mạnh H3 và Trần Quốc C1 đều thừa nhận hành vi đánh bạc với nhau cùng với L và L2 vào ngày 28/5/2024 với hình thức chơi bài Poker do bị cáo L và L2, A tổ chức. Cách thức đánh bạc, mỗi bị cáo chơi bài sẽ mua chip của bị cáo L, với quy ước 01 điểm chíp tương đương với 1.000 đồng, cụ thể: Bị cáo C1 mua 1.000 điểm chip; bị cáo S1 mua 1.000 điểm chip; bị cáo mua L2 500 điểm chip; bị cáo T4 mua 1.000 điểm chip; bị cáo H3 mua 1.000 điểm chip; bị cáo N2 mua 200 điểm chip; bị cáo D mua 1.000 điểm chip; bị cáo M mua 1.000 điểm chip. Tổng số điểm chíp L bán cho các bị cáo là 6.700 điểm. Cách tính thắng thua như sau: Ở mỗi ván bài, đầu tiên bị cáo A chia cho mỗi người chơi 02 lá bài ban đầu và mỗi người phải đặt 10 điểm chip, tiếp theo chia 03 lá tụ chủ (tụ của bị cáo A - để cho những người đánh bạc so điểm với nhau) rồi các bị cáo sẽ tự xem bài của mình rồi bắt đầu tố bài với nhau từ 01 điểm chip đến hết số chip của mình, người tiếp theo có quyền tố hoặc úp bài. Sau đó, bị cáo A tiếp tục chia tiếp cho tụ chủ 01 lá bài (lúc này tụ chủ có 04 lá bài) những người chơi tiếp tục tố bài và cược tiền, bị cáo A tiếp tục chia tiếp cho tụ chủ thêm 01 lá bài (lúc này tụ chủ có 05 lá bài) những người tham gia chơi tiếp tục tố bài rồi so bài với nhau, ai thắng sẽ được ăn hết số chip đã tố và trả tiền xâu cho bị cáo A là 50 điểm chip/01 ván bài; sau khi kết thúc buổi đánh bạc, các bị cáo đến gặp bị cáo L để tính tiền thắng, thua bằng cách đổi thẻ chip còn giữ trên người quy đổi ra thành tiền. Cách so bài, mỗi bị cáo chơi sẽ kết hợp 02 lá bài của mình cùng 05 lá bài của tụ chủ - để sắp xếp bài có thứ tự lớn nhất, sau đó sẽ so bài với nhau xem ai có bài mạnh nhất. Quy ước bài thắng thua như sau: Bài lẻ thua đôi (02 lá bài giống nhau), một đôi thua hai đôi, đôi thua xám chi (03 lá bài giống nhau), xám chỉ thua sảnh (05 lá bài cùng tiến liền nhau), sảnh thua thùng (05 lá bài đồng chất, đồng màu), thùng thua cù lũ (03 lá bài giống nhau “xám chỉ” và kết hợp “01 đôi” 02 lá bài giống nhau ở cùng tầng), cù lũ thua tứ quý (04 lá bài giống nhau), tứ quý thua thùng phá sảnh (05 lá bài đồng chất - đồng màu, cùng tiến liền nhau). Ngoài ra, khi mà người chơi có 01 hoặc 02 lá bài kết hợp với 05 lá bài của tụ chủ (bài do bị cáo A chia ra) được thùng phá sảnh (sảnh tiến đồng chất) hoặc tứ quý (04 lá bài cùng đơn vị) thì bị cáo L sẽ trích điểm chip để trao giải thưởng Jackpot cho người chơi, thời điểm đánh bạc có bị cáo Hoàng Mạnh H3 được 3.000 điểm Jackpot, tương đương 3.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Huy M được 2.660 điểm Jackpot, tương đương 2.660.000 đồng. Khi đánh xong ván bài thứ 09 thì bị cáo N2 không tiếp tục chơi, bị cáo đổi lại 200 điểm chip cho bị cáo L để lấy 200.000 đồng; cùng thời điểm này thì lực lượng Công an đến phát hiện các bị cáo đánh bạc ăn thua bằng tiền nên đã lập biên bản thu giữ tất cả điểm chip mà các bị cáo dùng để đánh bạc là 15.995 điểm, tương đương 15.995.000 đồng và 450 điểm chip xâu của 09 ván bài các bị cáo đã chơi tương đương 450.000 đồng (bút lục: 313 - 432).

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản không liên quan đến vụ án cho các bị cáo (bút lục: 106 - 117, 217 - 222).

Quá trình điều tra, các bị cáo Võ Thị Thanh L, Nguyễn Tấn L2, Trần Quốc A, Nguyễn Quốc T, Trần Quốc C1, Bùi Văn D, Hoàng Mạnh H3, Nguyễn Huy M, Triệu Nguyễn Trọng N2, Lâm Hải S1 và Lê Văn T4 đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, là tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo theo quy định. Bị cáo Trần Quốc C1, Bùi Văn D, Hoàng Mạnh H3, Nguyễn Huy M, Triệu Nguyễn Trọng N2, Lâm Hải S1, Lê Văn T4, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; riêng bị cáo Hoàng Mạnh H3 thuộc gia đình có công.

Tại bản Cáo trạng số: 81/CT-VKS ngày 10 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ truy tố Võ Thị Thanh L, Nguyễn Tấn L2, Trần Quốc A về tội “ Tổ chức đánh bạc” theo Điểm a Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Quốc T về tội “Gá bạc” theo Điểm b Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Trần Quốc C1, Bùi Văn D, Hoàng Mạnh H3, Nguyễn Huy M, Lâm Hải S1, Lê Văn T4 và Triệu Nguyễn Trọng N2 về tội “ Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

  • - Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Võ Thị Thanh L phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng;
  • Tịch thu thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nước 3.500.000 đồng.
  • - Áp dụng Đ1 a Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn L2 phạt tiền 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng;
  • Tịch thu thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nước 3.500.000 đồng.
  • - Áp dụng Đ1 a Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Trần Quốc A phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng;
  • Tịch thu thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nước 2.000.000 đồng.
  • - Áp dụng Đ1 b Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng;
  • Tịch thu thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nước 800.000 đồng.
  • - Áp dụng KhoảnĐiều 321; Điểm i, s KhoảnĐiều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt các bị cáo Trần Quốc C1; Lâm Hải S1; Bùi Văn D; Nguyễn Huy M; Triệu Nguyễn Trọng N2 phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng;
  • - Áp dụng KhoảnĐiều 321; Điểm i, s Khoản, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn T4 phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng;
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh H3 phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy các công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội gồm:

  • + 02 bàn dùng để chơi Poker;
  • + 18 ghế bằng kim loại màu trắng;
  • + 04 (bốn) bộ bài tây 52 lá;
  • + 01 miếng thủy tinh hình tròn có chữ Dealer;
  • + 28 miếng hình vuông (màu vàng) có chữ T11;
  • + 01 hộp đựng Poker bên trong có: 03 chip màu trắng mệnh giá 01; 40 chip màu xanh mệnh giá 01; 90 chip màu đỏ mệnh giá 05; 60 chip màu xanh mệnh giá 10; 67 chip màu xanh mệnh giá 25; 22 chip màu cam mệnh giá 50;
  • + 01 hộp đựng Poker màu đen, bên trong gồm: 02 chip màu xanh lam mệnh giá 10; 13 chip màu xanh dương mệnh giá 50; 02 chip màu xanh mệnh giá 100; 36 chip mệnh giá 500; 09 chip mệnh giá 1000; 10 chip mệnh giá 2000; 01 miếng thủy tinh tam giác có chữ ALLIN; 01 miếng kim loại hình tròn màu vàng; 06 hột xí ngầu;
  • + 01 hộp đựng Poker màu bạc, bên trong gồm: 158 chip mệnh giá 500;
  • + 01 hộp bằng kim loại màu đen, bên trong có: 03 chip mệnh giá 50;
  • + 01 dụng cụ để gom chip;
  • + Đồ vật thu trên người của Võ Thị Thanh L gồm: 01 viết bị đã qua sử dụng; 01 thẻ hình đồng hồ; 09 chip mệnh giá 5; 19 chip mệnh giá 10; 20 chip mệnh giá 20; 07 chip mệnh giá 50; 08 chip mệnh giá 100; 08 chip mệnh giá 200; 09 hóa đơn bán hàng của cửa hàng C3;
  • + Đồ vật thu trên người của Trần Quốc C1 gồm: 01 chip mệnh giá 5; 03 chip mệnh giá 10; 03 chip mệnh giá 20; 06 chip mệnh giá 50; 01 chip mệnh giá 100; 01 chip mệnh giá 200;
  • + Đồ vật thu trên người của Lâm Hải S1 gồm: 01 chip mệnh giá 20; 06 chip mệnh giá 50; 04 chip mệnh giá 200; 01 chip mệnh giá 100;
  • + Đồ vật thu trên người của Nguyễn Tấn L2 gồm: 01 chip mệnh giá 5; 03 chip mệnh giá 10; 01 chip mệnh giá 100; 04 chip mệnh giá 200; 02 chip mệnh giá 500; 02 lá bài tây;
  • + Đồ vật thu trên người của Lê Văn T4 gồm: 01 chip mệnh giá 5; 02 chip mệnh giá 50; 11 chip mệnh giá 100; 06 chip mệnh giá 200;
  • + Đồ vật thu giữ trên người của Bùi Văn D gồm: 01 chip mệnh giá 5; 03 chip mệnh giá 10; 01 chip mệnh giá 50; 01 chip mệnh giá 100; 02 chip mệnh giá 500;
  • + Đồ vật thu trên người của Nguyễn Huy M gồm: 02 chip mệnh giá 5; 01 chip mệnh giá 10; 01 chip mệnh giá 50; 09 chip mệnh giá 200;
  • + Đồ vật thu trên người của Hoàng Mạnh H3 gồm: 06 chip mệnh giá 5; 01 chip mệnh giá 20; 01 chip mệnh giá 50; 10 chip mệnh giá 100; 02 chip mệnh giá 1000;
  • + Đồ vật thu trên người của Trần Quốc A gồm: 52 lá bài có chữ WPT màu đỏ; 42 lá bài có chữ WPT màu xanh; 01 miếng thủy tinh hình tam giác có chữ ALLIN; 02 thẻ hình chữ nhật có chữ Time màu vàng; 07 chip mệnh giá 200; 19 chip mệnh giá 5; 15 chip mệnh giá 20; 09 chip mệnh giá 10; 03 chip mệnh giá 100; 01 miếng tròn có chữ D2;

Trả lại bị cáo Võ Thị Thanh L 01 tờ tiền USD mệnh giá 2 đô seri: L25864168A; 01 tờ tiền USD mệnh giá 2 đô seri: H05705739A;

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc T trình bày: Về tội danh thống nhất, không tranh luận; Thống nhất các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát áp dụng đối với bị cáo; Tuy nhiên đề nghị xem xét thêm đa số các bị cáo là sinh viên, hiện sống bám gia đình, bị cáo L cũng trình bày không có thuê địa điểm của bị cáo T, bị cáo T phạm tội do chủ quan chưa nhận thức hết đầy đủ về việc cho các bị cáo đến chỗ quản lý của mình để đánh bạc, nên phạm tội Gá bạc; Xin giảm mức phạt tiền cho bị cáo.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Văn T4 trình bày: Về tội danh thống nhất, không tranh luận; Thống nhất các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát áp dụng đối với bị cáo; Tuy nhiên đề nghị xem xét thêm bị cáo là sinh viên, hiện nay có vợ và con nhỏ; mức phạt tiền mà Viện Kiểm sát đề nghị là quá cao, xin giảm mức phạt tiền cho bị cáo.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Triệu Nguyễn Trọng N2 trình bày: Về tội danh thống nhất, không tranh luận; Thống nhất các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát áp dụng đối với bị cáo; Tuy nhiên đề nghị xem xét thêm bị cáo là sinh viên, mức độ tham gia của bị cáo chỉ đánh bạc 200.000 đồng, thấp hơn các bị cáo khác và tự chủ động nghỉ chơi trước khi cơ quan chức năng phát hiện; bị cáo không có thu lợi bất chính; Đề nghị xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm phạt tiền của điều luật quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra và truy tố đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì về thủ tục tố tụng.

[2]. Về tội danh:

[2.1]. Về tội “Tổ chức đánh bạc”:

Xét thấy, vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 28/5/2024, lực lượng chức năng đã bắt quả tang tại quán cà phê số A, đường X, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ, các bị cáo Võ Thị Thanh L, Nguyễn Tấn L2, Trần Quốc A vì động cơ kiếm tiền bằng thu lợi bất chính nên đã tổ chức và cùng tham gia đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài Poker thắng, thua bằng tiền cùng các bị cáo Trần Quốc C1, Bùi Văn D, Hoàng Mạnh H3, Nguyễn Huy M, Triệu Nguyễn Trọng N2, Lâm Hải S1 và Lê Minh T9 với tổng số tiền đánh bạc là 15.995.000 đồng.

Lời thừa nhận của các bị cáo Võ Thị Thanh L, Nguyễn Tấn L2, Trần Quốc A trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ, dữ liệu điện tử và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra, hành vi của các bị cáo đã tổ chức cho 10 người tham gia đánh bạc trái phép kể cả các bị cáo cùng tham gia trong cùng một lúc với tổng số tiền dùng vào đánh bạc là 15.995.000 đồng; Trong thời gian tổ chức đã thu lợi bất chính 7.000.000 đồng, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

[2.2]. Về tội “Gá bạc”:

Đối với bị cáo Nguyễn Quốc T trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cũng thừa nhận bản thân biết bị cáo Võ Thị Thanh L cùng các bị cáo khác trong vụ án này đánh bạc trái phép ăn tiền bằng hình thức chơi Poker, nhưng bị cáo đã cho thuê địa điểm thuộc quyền quản lý và bàn đánh P1 để cho 10 bị cáo trong vụ án này đánh bạc trái phép với nhau ăn thua bằng tiền, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 15.995.000 đồng, bị cáo đã thu lợi bất chính 800.000 đồng; Lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo Võ Thị Thanh L, cùng các bị cáo khác và vật chứng đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

[2.3]. Về tội “Đánh bạc”:

Đối với các bị cáo Trần Quốc C1, Bùi Văn D, Hoàng Mạnh H3, Nguyễn Huy M, Lâm Hải S1, Lê Văn T4 và Triệu Nguyễn Trọng N2 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cũng thừa nhận, khi được bị cáo L tổ chức địa điểm, rủ rê đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi bài Poker qua zalo nhóm các bị cáo đã đồng ý cùng tham gia; Vào ngày 28/5/2024 các bị cáo cùng các bị cáo L, L2, A đã tham gia đánh bạc trái phép, thắng thua bằng tiền với nhau bằng hình thức chơi bài Poker, chơi đánh bạc đến ván thứ 09 thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 15.995.000 đồng; Lời thừa nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra; N3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn công cộng, đã tạo tâm lý cho một bộ phận người dân lười lao động, kiếm tiền bất chính bằng hình thức cầu may, làm suy kiệt kinh tế gia đình và đây cũng là mầm mống làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3].Về vai trò, mức độ phạm tội và quyết định hình phạt đối với các bị cáo:

  • - Đối với bị cáo Võ Thị Thanh L và Nguyễn Tấn L2 là người giữ vai trò chính đã cùng nhau thỏa thuận thuê 01 phòng ở tầng 2 nhà số A, đường X, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ của bị cáo Nguyễn Quốc T từ tháng 4/2024 cho đến khi bị bắt, để tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài P1 thắng thua bằng tiền (trong phòng có sẵn 02 bàn chơi bài Poker của bị cáo T), lợi nhuận thu được sẽ chia đều. Trung bình mỗi ngày có khoảng 08 - 10 khách đến đánh bạc và trong khoảng thời gian tổ chức đánh bạc, 02 bị cáo thu lợi được 7.000.000 đồng. Ngoài ra, 02 bị cáo còn tham gia chơi đánh bạc chung với các bị cáo khác để lôi kéo các bị cáo cùng chơi, ngày 28/5/2024, bị cáo L đã sử dụng 3.885 điểm chip, tương đương 3.885.000 đồng để đánh bạc và đã thua 500 điểm, tương đương 500.000 đồng; bị cáo L2 sử dụng 500 điểm chip, tương đương 500.000 đồng để đánh bạc và đã thắng được 1.435 điểm, tương đương 1.435.000 đồng; Do đó hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phải cao hơn các bị cáo khác để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
  • - Đối với bị cáo Trần Quốc A giữ vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo L và L2, được bị cáo L thuê làm nhiệm vụ chia bài cho người chơi, đổi thẻ chip và thu tiền xâu, trung bình mỗi buổi chơi bài được L trả tiền công từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, tổng số tiền bị cáo được bị cáo L trả công trong thời gian tổ chức đánh bạc là 2.000.000 đồng. Ngày 28/5/2024, bị cáo cũng là người chia bài, đồng thời bị cáo L đưa cho bị cáo giữ các loại chip lẻ tổng cộng là 2.185 điểm để đổi cho người chơi khi người chơi cần đổi chip lớn thành nhiều chip lẻ; Do đó hình phạt áp dụng đối với bị cáo phải tương xứng với vai trò, mức độ giúp sức của bị cáo.
  • - Đối với bị cáo Nguyễn Quốc T đã cho bị cáo L và L2 thuê, sử dụng 01 phòng ở tầng 2 nhà số A, đường X, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ thuộc quyền quản lý của bị cáo, trong phòng có sẵn 02 bàn Poker của bị cáo để tổ chức cho người khác đánh bạc thắng thua bằng tiền; bị cáo thu tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng bằng hình thức gọi là phụ thu tùy theo thời gian chơi; Ngoài ra, khi người chơi đến đánh bạc thì bắt buộc phải gọi nước uống của quán bị cáo, bị cáo L sẽ trả tiền nước cho các bị cáo tham gia đánh bạc. Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính khoảng 800.000 đồng; Do đó hình phạt áp dụng đối với bị cáo phải tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
  • - Đối với các bị cáo Bùi Văn D, Nguyễn Huy M, Lê Văn T4, Lâm Hải S1, Triệu Nguyễn Trọng N2, Hoàng Mạnh H3 và Trần Quốc C1 đã có hành vi đánh bạc trái phép với nhau cùng với bị cáo L và bị cáo L2 vào ngày 28/5/2024 với hình thức chơi bài Poker do các bị cáo L, L2 và A tổ chức. Mỗi bị cáo chơi bài sẽ mua chip của bị cáo L trước khi vào đánh bạc, với quy ước 01 điểm chip tương đương với 1.000 đồng, cụ thể vào ngày 28/5/2024 bị cáo C1 mua 1.000 điểm chip; bị cáo S1 mua 1.000 điểm chip; bị cáo L2 500 điểm chip; bị cáo T4 mua 1.000 điểm chip; bị cáo H3 mua 1.000 điểm chip; bị cáo D mua 1.000 điểm chip; bị cáo M mua 1.000 điểm chip; bị cáo N2 mua 200 điểm chip. Tổng số điểm chip bị cáo L bán cho các bị cáo là 6.700 điểm. Số tiền dùng việc đánh bạc ban đầu của mỗi bị cáo D, M, T4, S1, H3, C1 là 1.000 điểm chip tương đương 1.000.000 đồng và bị cáo Nghĩa là 200.000 điểm chip tương đương 200.000 đồng. Ngoài ra, khi người chơi có 01 hoặc 02 lá bài kết hợp với 05 lá bài của tụ chủ (bài do bị cáo A chia ra) được thùng phá sảnh (sảnh tiến đồng chất) hoặc tứ quý (04 lá bài cùng đơn vị) thì bị cáo L sẽ trích điểm chip để trao giải thưởng Jackpot cho người chơi, thời điểm đánh bạc có bị cáo Hoàng Mạnh H3 được 3.000 điểm Jackpot, tương đương 3.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Huy M được 2.660 điểm Jackpot, tương đương 2.660.000 đồng. Đến thời điểm lực lượng Công an đến phát hiện các bị cáo đánh bạc ăn thua bằng tiền nên đã lập biên bản thu giữ tất cả điểm chip mà các bị cáo dùng để đánh bạc là 15.995 điểm, tương đương 15.995.000 đồng và 450 điểm chip xâu của 09 ván bài các bị cáo đã chơi tương đương 450.000 đồng; Do đó hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phải tương ứng với tính chất, mức độ mà các bị cáo đã tham gia đánh bạc trái phép.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo phần nào như tất cả các bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo thuộc nhóm tội đánh bạc có thêm tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

  • - Đối với bị cáo Võ Thị Thanh L và Nguyễn Tấn L2 đã nộp lại tiền thu lợi bất chính;
  • - Đối với bị cáo Nguyễn Quốc T có ông nội là liệt sĩ, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, bà cố được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và cha của bị cáo có nhiều thành tích trong công tác; bị cáo cũng đã nộp lại xong phần tiền thu lợi bất chính;
  • - Đối với bị cáo Trần Quốc A là gia đình có công với cách mạng có ông bác là liệt sĩ, ông nội, bác được tặng thưởng nhiều Huân chương kháng chiến, Huân chương Quyết thắng và mẹ của bị cáo có nhiều thành tích trong công tác; bị cáo cũng đã nộp lại xong phần tiền thu lợi bất chính;
  • - Đối với bị cáo Hoàng Mạnh H3 là gia đình có công với cách mạng có ông ngoại, cậu được tặng thưởng nhiều Huân chương kháng chiến, Huân chương và mẹ của bị cáo có nhiều thành tích trong công tác;
  • - Đối với bị cáo Lê Văn T4 là gia đình có công với cách mạng có ông nội được tặng thưởng nhiều Huân chương kháng chiến, Huy chương;
  • - Đối với bị cáo Triệu Nguyễn Trọng N2 cũng cần xem xét mức độ tham gia đánh bạc ít hơn các bị cáo khác và đã chủ động nghỉ trước khi bị cơ quan chức năng phát hiện.

[3]. Về xử lý vật chứng: Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Xét lời trình bày bào chữa của các Luật sư Nguyễn Thanh C bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc T; Luật sư Ngô Hồng T7 bào chữa cho bị cáo Triệu Nguyễn Trọng N2; Luật sư Bùi Duy H6 bào chữa cho bị cáo Lê Văn T4 là có căn cứ; Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Võ Thị Thanh L, Nguyễn Tấn L2, Trần Quốc A phạm tội “ Tổ chức đánh bạc”;

- Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Gá bạc”;

- Các bị cáo Trần Quốc C1, Bùi Văn D, Hoàng Mạnh H3, Nguyễn Huy M, Lâm Hải S1, Lê Văn T4Triệu Nguyễn Trọng N2 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào:

  • - Điểm a Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Võ Thị Thanh L 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

- Tịch thu tiền thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nước 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng); Được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã nộp là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000788, ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; Công nhận bị cáo đã nộp xong.

Căn cứ vào:

  • - Điểm a Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn L2 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

- Tịch thu tiền thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nước 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng); Được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã nộp là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000789, ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; Công nhận bị cáo đã nộp xong.

Căn cứ vào:

  • - Điểm a Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc A 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

- Tịch thu tiền thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nước 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng); Được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã nộp là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0000830, ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; Công nhận bị cáo đã nộp xong.

Căn cứ vào:

  • - Điểm b Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

- Tịch thu tiền thu lợi bất chính sung quỹ Nhà nước 800.000 đồng (Tám trăm ngàn đồng); Được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã nộp là 800.000 đồng (T10 trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000833, ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; Công nhận bị cáo đã nộp xong.

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huy M 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc C1 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn D 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Hải S1 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T4 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Mạnh H3 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Triệu Nguyễn Trọng N2 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng); Buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà nước;

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy các công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội gồm:

  • + 02 bàn dùng để chơi Poker;
  • + 18 ghế bằng kim loại màu trắng;
  • + 04 (bốn) bộ bài tây 52 lá;
  • + 01 miếng thủy tinh hình tròn có chữ Dealer;
  • + 28 miếng hình vuông (màu vàng) có chữ T11;
  • + 01 hộp đựng Poker bên trong có: 03 chip màu trắng mệnh giá 01; 40 chip màu xanh mệnh giá 01; 90 chip màu đỏ mệnh giá 05; 60 chip màu xanh mệnh giá 10; 67 chip màu xanh mệnh giá 25; 22 chip màu cam mệnh giá 50;
  • + 01 hộp đựng Poker màu đen, bên trong gồm: 02 chip màu xanh lam mệnh giá 10; 13 chip màu xanh dương mệnh giá 50; 02 chip màu xanh mệnh giá 100; 36 chip mệnh giá 500; 09 chip mệnh giá 1000; 10 chip mệnh giá 2000; 01 miếng thủy tinh tam giác có chữ ALLIN; 01 miếng kim loại hình tròn màu vàng; 06 hột xí ngầu;
  • + 01 hộp đựng Poker màu bạc, bên trong gồm: 158 chip mệnh giá 500;
  • + 01 hộp bằng kim loại màu đen, bên trong có: 03 chip mệnh giá 50;
  • + 01 dụng cụ để gom chip;
  • + Đồ vật thu trên người của Võ Thị Thanh L gồm: 01 viết bi đã qua sử dụng; 01 thẻ hình đồng hồ; 09 chip mệnh giá 5; 19 chip mệnh giá 10; 20 chip mệnh giá 20; 07 chip mệnh giá 50; 08 chip mệnh giá 100; 08 chip mệnh giá 200; 09 hóa đơn bán hàng của cửa hàng C3;
  • + Đồ vật thu trên người của Trần Quốc C1 gồm: 01 chip mệnh giá 5; 03 chip mệnh giá 10; 03 chip mệnh giá 20; 06 chip mệnh giá 50; 01 chip mệnh giá 100; 01 chip mệnh giá 200;
  • + Đồ vật thu trên người của Lâm Hải S1 gồm: 01 chip mệnh giá 20; 06 chip mệnh giá 50; 04 chip mệnh giá 200; 01 chip mệnh giá 100;
  • + Đồ vật thu trên người của Nguyễn Tấn L2 gồm: 01 chip mệnh giá 5; 03 chip mệnh giá 10; 01 chip mệnh giá 100; 04 chip mệnh giá 200; 02 chip mệnh giá 500; 02 lá bài tây;
  • + Đồ vật thu trên người của Lê Văn T4 gồm: 01 chip mệnh giá 5; 02 chip mệnh giá 50; 11 chip mệnh giá 100; 06 chip mệnh giá 200;
  • + Đồ vật thu giữ trên người của Bùi Văn D gồm: 01 chip mệnh giá 5, 03 chip mệnh giá 10; 01 chip mệnh giá 50; 01 chip mệnh giá 100; 02 chip mệnh giá 500;
  • + Đồ vật thu trên người của Nguyễn Huy M gồm: 02 chip mệnh giá 5; 01 chip mệnh giá 10; 01 chip mệnh giá 50; 09 chip mệnh giá 200;
  • + Đồ vật thu trên người của Hoàng Mạnh H3 gồm: 06 chip mệnh giá 5; 01 chip mệnh giá 20; 01 chip mệnh giá 50; 10 chip mệnh giá 100; 02 chip mệnh giá 1000;
  • + Đồ vật thu trên người của Trần Quốc A gồm: 52 lá bài có chữ WPT màu đỏ; 42 lá bài có chữ WPT màu xanh; 01 miếng thủy tinh hình tam giác có chữ ALLIN; 02 thẻ hình chữ nhật có chữ Time màu vàng; 07 chip mệnh giá 200; 19 chip mệnh giá 5; 15 chip mệnh giá 20; 09 chip mệnh giá 10; 03 chip mệnh giá 100; 01 miếng tròn có chữ Dealer;

Trả lại bị cáo Võ Thị Thanh L 01 tờ tiền USD mệnh giá 2 đô seri: L25864168A; 01 tờ tiền USD mệnh giá 2 đô seri: H05705739A.

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Các bị cáo Võ Thị Thanh L, Nguyễn Tấn L2, Trần Quốc A, Nguyễn Quốc T, Trần Quốc C1, Bùi Văn D, Hoàng Mạnh H3, Nguyễn Huy M, Lâm Hải S1, Lê Văn T4 và Triệu Nguyễn Trọng N2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. Ninh Kiều;
  • - Chi cục THA Q. Ninh Kiều;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Các cơ quan khác theo quy định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

BÙI XUÂN ÁNH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tổ chức đánh bạc, gá bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 104/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc, Gá bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Thanh L cùng đồng phạm, phạm tội " Tổ chức đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger