TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2025/HS-ST Ngày 26-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
- Bà Ngô Hồng Lan Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hồng Sơn, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tố Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Tô Vũ T, sinh năm 1977 tại tỉnh Lâm Đồng; thường trú: Ấp B, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; giới tính: Nam; con ông Tô Văn T1, sinh năm 1952 và bà Lê Thị C, sinh năm 1952; bị cáo có 02 anh chị, lớn nhất sinh năm 1972; nhỏ nhất sinh năm 1975; bị cáo có vợ tên Vì Thị P, sinh năm 1984 và có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Văn L, sinh năm 1951; địa chỉ thường trú: Số B khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên lạc: Chùa Đ, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vì Thị P, sinh năm 1984; địa chỉ: Số F, Ấp B, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Tô Vũ T và ông Lê Văn L (trụ trì chùa Đ) có quen biết nhau thông qua một người khác giới thiệu. Lúc này T lấy tên là Văn Quyền L1, sinh năm 1979, thường trú: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 26/3/2024, ông L nhờ T mua sừng tê giác để điều trị bệnh, ngày 27/3/2024, T đang ở Lâm Đồng thì thấy có 1 người chở theo nhiều đầu bò, đầu trâu bán dạo nên T hỏi có sừng tê giác bán không, người bán dạo trả lời không có sừng tê giác vì đó là hàng quốc cấm, chỉ có 02 sừng bò có hình dạng giống sừng tê giác thôi. T báo cho ông L, gửi hình ảnh, báo giá cho ông L là 160.000.000đ/02 cái sừng, ông L trả giá 100.000.000 đồng thì mua, T đồng ý và mua cặp sừng đó với giá 10.000.000 đồng của người bán dạo. Ngày 29/3/2024, T đến Chùa Đ, khu phố Đ, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương giao 02 cái sừng tê giác cho ông L và nhận tiền, T xin ông L thêm 3.000.000đ tiền chi phí đi lại, ông L đồng ý và hai bên viết giấy giao, nhận. Khi nhận 02 cái sừng, do nghi ngờ không phải là sừng tê giác nên ông L đã điện thoại báo cho Phòng C1 Công an tỉnh B, khoảng 30 phút sau lực lượng Công an đến bắt quả tang, lập biên bản và thu giữ tang vật để xử lý.
Ngoài ra, ngày 26/4/2022, T (lúc này đang có tên là L1) mang đến Chùa Đ (một) vật có hình dạng giống như sừng động vật và cũng nói với ông L đây là sừng Tê G, T gửi cho ông L làm tin để lấy số tiền 300.000.000 đồng làm chi phí vận chuyển thiên thạch đến cho ông L, ông L đồng ý giao tiền cho T và viết giấy giao nhận tiền có chữ ký tên Văn Quyền L1 (tên gọi khác của T). Trong năm 2022, này T còn giao cho ông L 05 (năm) sừng động vật T cũng nói là sừng tê giác.
Kết luận giám định số 2220/KL-KTHS ngày 04/04/2024 của phân viện KTHS tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định 02 (hai) sừng động vật không phải là sừng tê giác và tại Văn bản số 70/C09B của V - Phân viện KHHS tại TP . ngày 14/01/2025 về việc trả lời Công văn số 145/CSHS ngày 10/01/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B (PC02) có ý kiến như sau:
- Đối với mẫu vật là 02 (hai) sừng động vật gửi kèm theo Quyết định trưng cầu giám định số 1162/QĐ-CSHS ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh B, Phân viện khoa học hình sự đã tiến hành giám định và xác định mẫu vật gửi giám định 02 (hai) sừng động vật trên không phải là sừng tê giác.
Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 21-2025/KL/STHMN ngày 26/02/2025 của V1 ứng dụng – Viện sinh thái học M kết luận:
- Hai (02) mẫu vật được Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh B trưng cầu giám định được xác định là sừng của loài Bò Tây T2, tên tiếng Anh là: Y, tên khoa học là Bos G1. Bò Tây T2 không phải là loài động vật hoang dã thuộc nhóm nguy cấp, quý hiếm.
Kết luận giám định số 2116/KL-KTHS ngày 09/04/2024 của phân viện KTHS tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định 05 (năm) sừng động vật có hình dạng giống sừng động vật không phải là sừng tê giác, là sừng trâu, bò, không thuộc nhóm đồng vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
2
Kết luận giám định số 3978/KL-KTHS (TL) ngày 21/8/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh B xác định: Chữ ký mang tên “Văn Quyền L1” dưới mục “Người nhận tiền” trên “Giấy cam kết” đề ngày 26 tháng 4 năm 2022 bên trong cuốn sổ kích thước (21x26,5) cm bìa cứng màu đen, nhãn hiệu “2017 TOYOTA” (ký hiệu A) so với chữ ký Văn Quyền L1 do Tô Vũ T ký thực nghiệm trên “Bản tự khai/Bản tường trình” đề ngày 16 tháng 8 năm 2024 (ký hiệu M4) do cùng một người ký ra.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màu đen tím, số sê-ri: HH02H6P95D của bị cáo T;
- - 03 (ba) vật có hình dạng giống như sừng đồng vật (sừng trâu);
- - 103.000.000 đồng (một trăm lẻ ba triệu đồng).
- - 01 (một) viên ngọc ốc giác có hình dạng như quả trứng cút, màu cam;
- - 01 Bản Kết quả giám định viên ngọc ốc giác có hình dạng như quả trứng cút;
- - 05 (năm) vật có hình dạng giống như sừng động vật (sừng trâu);
- - 01 (một) khối kim loại (bằng đồng) màu đen có kích thước, hình dạng chưa xác định (khoảng hơn một nắm tay).
Tại Cáo trạng số 232/CT-VKS-P2 ngày 29 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Tô Vũ T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù.
* Về xử lý vật chứng:
- - Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màu đen tím, số sê-ri: HH02H6P95D của bị cáo T, là phương tiện bị cáo sử dụng để liên hệ và chụp hình gửi cho ông L nhằm thực hiện các hành vi phạm tội.
- - Đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 (ba) sừng động vật, gồm: 01(một) sừng trâu, bò và 02 (hai) sừng Bò T.
- - Số tiền 103.000.000 đồng là tài sản của ông L, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã trả lại cho ông L theo Quyết định xử lý vật chứng số 1576 ngày 06/5/2024.
- - 01 (một) viên ngọc ốc giác có hình dạng như quả trứng cút, màu cam 04 (bốn) vật có hình dạng giống như sừng động vật (sừng trâu); 01 (một) khối kim loại (bằng đồng) màu đen có kích thước, hình dạng chưa xác định (khoảng hơn một nắm tay) cơ quan điều tra tiếp tục bảo quản để xác minh làm rõ.
* Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn L yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), bị cáo đã tác động gia đình bồi
3
thường số tiền 20.000.000 đồng, số tiền còn lại là 280.000.000 đồng chưa bồi thường. Tại phiên tòa bị cáo không đồng ý trả số tiền này vì cho rằng đây là chi phí ông L trả cho bị cáo để bị cáo bỏ công sức ra đi tìm kiếm thiên thạch gia bảo theo yêu cầu của ông L.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận bị cáo không đồng ý với truy tố của Viện kiểm sát đối với số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), bị cáo không lừa đảo để chiếm đoạt số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
Bị cáo nói lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại ông Lê Văn L vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến tranh luận, tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị hại yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 280.000.000 đồng. Đối với số tiền bị cáo T đã lấy của ông L nhưng không có chứng từ chứng minh nên đề nghị cơ quan chức năng tiếp tục xác minh làm rõ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Bị hại Lê Văn L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông L.
[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như các Kết luận giám định chữ ký, Kết luận giám định sừng động vật, Kết luận giám định về Trích xuất hình ảnh, Biên bản bắt người phạm tội quả tang... có căn cứ xác định: Vào các ngày 26/4/2022 và 26/3/2024 bị cáo Tô Vũ T đã có hành vi nói dối ông Lê Văn L 03 (ba) sừng động vật bị cáo đưa cho ông L là sừng tê giác để chiếm đoạt của ông L số tiền tổng cộng là 403.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Tô Vũ T đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 232/CT-VKS-P2 ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về ý thức chủ quan, bị cáo là người có năng lực trách
4
nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi bị cáo đã cố tình thực hiện. Với bị cáo cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được xem xét khi quyết định hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo còn quanh co, chối tội, không thành khẩn khai báo; không thể hiện ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử không áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
[7] Trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 280.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo không đồng ý thanh toán số tiền này cho bị hại vì cho rằng đây là tiền bị hại trả công cho bị cáo để đi tìm thiên thạch gia bảo cho bị hại chứ không phải tiền bị cáo cầm cố sừng động vật (sừng tê giác) để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án như đã phân tích ở trên thì đây là số tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của bị hại nên cần buộc bị cáo trả lại cho bị hại.
[8] Đối với số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) là tiền của vợ chồng bà P với bị cáo nhưng bà P không yêu cầu bị cáo trả lại cho bà P phần của bà P nên HĐXX không xem xét.
[9] Đối với số tiền 1.000.000.000 đồng ông L khai báo bị Tô Vũ T lừa đảo, Tòa án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ nhưng chưa đủ căn cứ để xử lý nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.
[10] Về vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màu đen tím, số sê-ri: HH02H6P95D của bị cáo T, là phương tiện bị cáo sử dụng để liên hệ và chụp hình gửi cho ông L nhằm thực hiện các hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
- - 03 (ba) sừng động vật, gồm: 01 sừng trâu, bò và 02 (hai) sừng Bò Tây Tạng cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Số tiền 103.000.000 đồng là tài sản của ông L nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã trả lại cho ông L là đúng quy định pháp luật.
- - 01 Bản Kết quả giám định viên ngọc ốc giác có hình dạng như quả trứng cút lưu tại hồ sơ vụ án (BL 32);
- - Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) viên ngọc ốc giác có hình dạng như quả trứng cút, màu cam; 04 (bốn) vật có hình dạng giống như sừng động vật (sừng trâu); 01 (một) khối kim loại (bằng đồng) màu đen có kích thước, hình dạng chưa xác định
5
(khoảng hơn một nắm tay), ông L khai bị cáo T sử dụng để lừa đảo nhằm chiếm đoạt của ông L số tiền 1.000.000.000 đồng trong năm 2022, nhưng chưa đủ căn cứ để xử lý nên Cơ quan điều tra tiếp tục bảo quản, xác minh xử lý sau.
[11] Mức hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận
[12] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Tô Vũ T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Tô Vũ T 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy 51, màu đen tím, số sê-ri: HH02H6P95D được niêm phong trong bì thư có chữ ký bên giao Lê Quốc T3 thuộc Phòng KTHS Công an tỉnh B, chữ ký bên nhận Huỳnh Thanh L2 thuộc Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (PC02) được đóng dấu mộc đỏ của Phòng C1 Công an tỉnh B theo Kết luận giám định số 494/KL-KTHS ngày 17 tháng 1 năm 2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh B.
- Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) vật có hình dạng giống sừng động vật (sừng trâu).
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2025)
- Buộc bị cáo Tô Vũ T trả lại cho ông Lê Văn L số tiền 280.000.000đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng).
Kể từ ngày ông Lê Văn L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Tô Vũ T chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng bị cáo T còn phải trả cho ông L số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
6
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Tô Vũ T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoa |
7
8
Bản án số 104/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 104/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tô Vũ T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An truy tố về tộ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
