|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2025/HS-ST Ngày 25 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vi Thị Bình, ông Cầm Văn Chinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Kiều Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2025/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Lò Văn M, sinh ngày 12/6/1992 tại huyện Q, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: không; con ông Lò Văn A, sinh năm 1970 và bà Lò Thị N, sinh năm 1965; có vợ là Hoàng Thị L, sinh năm 1993 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 18/3/2025 đến ngày 27/5/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 02/01/2025, tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự - Kinh tế ma túy, Công an huyện Q làm nhiệm vụ phòng chống tội phạm tại khu vực bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La nhận được tin báo tố giác của quần chúng nhân dân về việc phát hiện Lò Văn M, sinh năm 1992, trú tại bản Nà Mùn, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La đang tàng trữ 01 khẩu súng hơi. Sau khi nhận được tin báo, tổ công tác đã tiến hành làm việc với Lò Văn M, tại đây M đã tự giác giao nộp cho tổ công tác. Vật chứng thu giữ gồm: 01 khẩu súng hơi màu đen bạc, trên thân súng có ống ngắm hình trụ có chữ DiscoveryOPT VT-R3-9X401RAC, kích thước dài 103cm, thân súng có gắn dây vải đeo màu trắng.
Kết luận giám định số 209/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh S kết luận: “Súng gửi giám định là súng nén hơi, thuộc Danh mục vũ khí quân dụng (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024); súng vẫn còn sử dụng để bắn được.”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lò Văn M khai nhận hành vi đã thực hiện như sau:
Khoảng tháng 12/2024 Lò Văn M sử dụng điện thoại di động vào trang mạng xã hội thì thấy có đăng bán súng hơi, Lò Văn M đã nhắn tin và đặt mua khẩu súng hơi có giá 1.800.000đ. Người bán và M đã thống nhất để dễ vận chuyển và tránh bị Công an phát hiện đã tháo khẩu súng thành 3 lần vận chuyển, đơn đầu tiên gồm “Búa và van” có giá 500.000đ, đơn thứ hai gồm nòng, bình hơi và “quy loát” có giá 500.000đ, đơn thứ ba là ống nhòm có giá 800.000đ, các đơn hàng sẽ được vận chuyển miễn phí. Khoảng 5 ngày kể từ ngày đặt mua súng Moi nhận được đơn hàng đầu tiên gồm “Búa và van”, tiếp sau đó hai ngày nhận được đơn hàng thứ hai và ba, việc thanh toán M trả tiền thông qua đơn vị vận chuyển. Sau khi nhận đủ linh kiện của khẩu súng, M chế tạo thêm báng súng và lắp các bộ phận thành một khẩu súng hoàn chỉnh, xin của Lò Văn C được 15 viên đạn kim loại hình nấm để bắn thử. Sau khi mua súng, lắp đặt và bắn thử thấy sử dụng tốt nên M cất khẩu súng dưới gầm giường ngủ để khi nào có đạn thì mang đi săn bắn. Đến ngày 02/01/2025 tổ công tác Công an huyện Q đến làm việc, M đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác vật chứng như đã nêu ở trên.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số: 70/CT-VKS-P1 ngày 03/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Lò Văn M về tội: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không khai báo gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn M từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
V xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bàn giao 01 khẩu súng hơi cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh S xử lý theo quy định.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận thêm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2] Về hành vi phạm tội:
Ngày 02/01/2025 Lò Văn M đã có hành vi cất giữ trái phép một khẩu súng nén hơi tại nơi ở của mình thuộc bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La mục đích để sử dụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản sự việc lập hồi 8 giờ 00 phút ngày 02/01/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La.
- Kết luận giám định số 209/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh S kết luận: Súng gửi giám định là súng nén hơi, thuộc Danh mục vũ khí quân dụng (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024); súng vẫn còn sử dụng để bắn được.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn M đã phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.
-
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần có mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
-
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội vợ là Hoàng Văn Í có thành tích xuất sắc trong công tác, năm 1969 được Cục trưởng Cục Chính trị tặng thưởng Bằng khen, năm 1982 được Cục trưởng Cục Trinh sát Biên phòng tặng Bằng khen; tại đơn xin hưởng án treo của bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, nuôi 03 con còn nhỏ, bị cáo bị bệnh thận thường xuyên phải điều trị thuốc là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-
[5] Về mức hình phạt áp dụng: Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có khả năng tự cải tạo, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú nên mở lượng khoan hồng, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng bảo đảm biện pháp cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung. Đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp.
-
[6] Về hình phạt bổ sung
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
[7] Về các đối tượng liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc khẩu súng Lò Văn M khai mua của người không quen biết trên mạng xã hội Youtube, không biết tên và địa chỉ, số điện thoại người bán, sau khi đặt mua được khẩu súng thì M đã xóa các thông tin người bán; không biết người và đơn vị vận chuyển. Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành kiểm tra điện thoại của Lò Văn M nhưng không xác định được thông tin, không có căn cứ mở rộng xác minh điều tra.
Đối với Lò Văn C (sinh năm 1993, trú tại bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La) là người cho Lò Văn M 15 viên đạn hình nấm, hiện Lò Văn C cũng đang bị khởi tố về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng nên được xem xét xử lý chung trong vụ án Lò Văn C bị khởi tố.
Đối với hành vi mua bán, chế tạo thêm báng súng, lắp ráp, sử dụng khẩu súng nén hơi, đạn sử dụng cho súng nén hơi của bị cáo từ tháng 12/2024. Bị cáo khai đã sử dụng hết đạn, không thu giữ được vật chứng; Căn cứ Luật quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 14/2017/QH14 ngày 20/6/2017 (hết hiệu lực ngày 01/01/2025 được thay thế bằng Luật quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024), do đó tại thời điểm tháng 12/2024 súng nén hơi thuộc danh mục súng săn; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên không cấu thành tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép súng săn” quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự.
-
[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 khẩu súng quân dụng thu giữ của bị cáo Lò Văn M, cần tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh S tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền.
-
[9] Về án phí: Bị cáo Lò Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
Xử phạt bị cáo Lò Văn M 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/6/2024).
Giao bị cáo Lò Văn M cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La, thành phố S, tỉnh Sơn La quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
-
Về vật chứng, tài sản: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 61, Điều 63 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024:
Tịch thu và giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh S xử lý theo quy định: 01 (Một) khẩu súng hơi màu đen bạc, trên thân súng có ống ngắm hình trụ có chữ DiscoveryOPT VT-R3-9X401RAC, kích thước dài 103cm, thân súng có gắn dây vải đeo màu trắng được đựng trong 01 (một) gói vật chứng còn nguyên niêm phong.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo Lò Văn M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 25/6/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Kim Liên |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Vi Thị Bình Cầm Văn Chinh |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điêu Thị Kim Liên |
Bản án số 104/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 104/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
