Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2025/HS-ST

Ngày 25-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bấm

Bà Phạm Thị Thao

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 321/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 và Thông báo số 332/TB-TA ngày 19/6/2025 v/v thay đổi thời gian mở phiên tòa đối với bị cáo:

Phạm Ngọc Mai A, sinh ngày 30 tháng 9 năm 1999 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi tạm trú: Số F Đà Nẵng, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q (đã chết) và bà Đỗ Thị H; có chồng là Nguyễn Xuân D và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2025; có mặt.

- Bị hại: Chị Phạm Thị Khánh H1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Số B P, phường V, quận N, Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8/2023, Phạm Ngọc Mai A được nhận vào làm nhân viên bán hàng cho cửa hàng H3, địa chỉ số E P, phường V, Quận N, thành phố Hải Phòng do chị Phạm Khánh H1 (sinh năm 1996, trú tại: số B P, V, N, Hải Phòng) làm chủ quán. Cả hai thỏa thuận bằng miệng (không ký hợp đồng): hằng ngày Mai Anh đến bán hàng từ 07 giờ 30 phút đến 18 giờ 00 phút, tiền công là 20.000 đồng/1 giờ, lương nhận bằng hình thức trả tiền mặt vào khoảng mùng 10 hàng tháng, sau 18 giờ, chị H1 sẽ là người trực tiếp bán hàng. Để thuận tiện cho việc quản lý kinh doanh, chị H1 lắp camera và sử dụng phần mềm bán hàng kios V, khi có khách mua hàng, Mai A sẽ phải quét toàn bộ các mã hàng khách hàng đã chọn vào phần mềm kios Việt, phần mềm sẽ tự tính tiền khách cần phải trả, sau đó in hóa đơn, Mai A sẽ thu tiền dựa trên hóa đơn và đưa hóa đơn cho khách. Tiền hàng thu được của khách, Mai A phải cất vào ngăn thứ nhất của tủ được kê ngay góc tường sát cửa ra vào. Mai A chỉ được sử dụng ngăn thứ nhất của tủ, ngăn thứ hai và ngăn thứ ba có khóa do chị H1 quản lý, Mai A không được phép sử dụng. Hết ca làm, Mai A tự kiểm đếm tiền hàng sau đó để tiền vào ngăn kéo thứ nhất cho chị H1.

Do thường xuyên ở lại cửa hàng và đã vài lần vào phòng chị H1 dọn dẹp nên Mai A biết vị trí chìa khóa tủ H1 cất. Lợi dụng sơ hở trên, khi chị H1 không có ở cửa hàng, Mai A đã tự ý vào phòng chị H1 lấy chìa khóa mở các ngăn kéo hai và ba lấy trộm tiền, sau khi lấy xong, Mai A để lại chìa khóa vào vị trí cũ. Với thủ đoạn trên, từ ngày 31/01/2024 đến 09/02/2024, Mai A đã nhiều lần trộm cắp tài sản của chị H1 với tổng số tiền là 29.600.000 đồng. Cụ thể: Ngày 31/01/2024, lấy 6.000.000 đồng; ngày 01/02/2024, lấy 4.000.000 đồng; ngày 03/02/2024 lấy 3.000.000 đồng; ngày 04/02/2024 lấy 2.600.000 đồng; ngày 06/02/2024 lấy 4.500.000 đồng; ngày 07/02/2024 lấy 2.000.000 đồng; ngày 08/02/2024 lấy 4.000.000 đồng và ngày 09/02/2024 lấy 3.500.000 đồng tại ngăn kéo thứ hai. Số tiền trên Mai A đã tiêu xài vào việc cá nhân.

Đến cuối tháng 02 năm 2024 chị H1 mở ngăn kéo tủ thứ hai lấy tiền thì phát hiện mất toàn bộ số tiền 29.600.000 đồng, kiểm tra camera chị H1 phát hiện việc Mai A lấy trộm tiền. Vì thương hoàn cảnh gia đình của Mai A nên chị H1 cho Mai A trả trước 5.000.000 và đồng ý để Mai A tiếp tục làm việc tại cửa hàng để trả nợ.

Đến cuối tháng 5 năm 2024, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Mai A tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. Cụ thể: Ngày 20/5/2024, Mai A lấy trộm 5.000.000 đồng; ngày 23/5/2024, lấy trộm 6.500.000 đồng; ngày 26/5/2024, lấy trộm 5.000.000 đồng, 01 nhẫn vàng loại nhẫn tròn mặt vuông loại vàng ta nặng 05 chỉ và 01 dây đeo cổ vàng tây 18k loại 06 chỉ. Lấy được tài sản, Mai A đã bán 01 nhẫn vàng và 01 dây vàng được 57.000.000 đồng. Do thời gian bán đã lâu nên Mai A không nhớ được bán vàng cụ thể ở đâu. Toàn bộ số tiền Mai A đã chi tiêu cá nhân hết. Đến đầu tháng 6 năm 2024, chị H1 phát hiện mất tiền và vàng nên đã hỏi Mai A thì Mai A thừa nhận đã trộm cắp số tài sản trên của chị H1. Mai A xin chị H1 tha thứ và trả cho chị H1 số tiền 3.500.000 đồng số tiền còn lại bao giờ có H1 sẽ trả. Vì hoàn cảnh gia đình Mai A nên chị H1 đồng ý cho Mai A tiếp tục.

Ngày 22/7/2024, chị H1 kiểm tra kho bằng cách đối chiếu số lượng hàng hóa trong kho và hàng hóa còn tồn lưu trên phần mềm kiot V nhận thấy số lượng hàng thực tế tại kho còn ít hơn so với so với trên phần mềm, chị H1 kiểm tra lại số hàng hóa thiếu phát hiện thất thoát số hàng khoàng trên 66.000.000 đồng. Chị H1 có hỏi Mai A, Mai A tiếp tục thừa nhận việc khi có khách vào mua hàng, Mai A bán hàng cho khách như bình thường. Khi thanh toán tiền, Mai A quét mã hàng vào phần mềm kios V rồi hỏi khách có lấy hóa đơn không, nếu khách không lấy hóa đơn, Mai A vẫn thu đủ tiền hàng thực tế khách đã mua tuy nhiên sẽ quét lại số lượng hàng ít hơn số lượng thực tế giao cho khách để lấy tiền chênh lệch. Trước khi hết ca làm, kiểm tra trong ngày bán hàng được bao nhiêu tiền trên phần mềm, Mai A sẽ để lại đúng số tiền như vậy, số tiền thừa sẽ lấy và tiêu xài vào việc cá nhân. Cơ quan Cảnh sát điều tra yêu cầu chị H1 cung cấp camera ghi lại việc Mai A lấy trộm tài sản và các giấy tờ liên quan đến nguồn gốc nhập hàng hóa vào cửa hàng để xác định số hàng hóa bị mất nhưng chị H1 không cung cấp được. Nhận thấy ngoài lời khai của Mai A về việc trộm cắp tài sản của chị H1 bằng cách chiếm đoạt số tiền chênh lệch bán hàng không còn chứng cứ nào khác chứng minh việc Mai A trộm cắp tài sản. Bên cạnh đó sau 18 giờ, Mai A không phải là người thực hiện việc bán hàng, việc hàng hóa có bị thiếu hụt, mất mát không thể xác định là do lỗi của một mình Mai A. Do đó, không đủ căn cứ kết luận Mai A trộm cắp số tiền 66.793.174 đồng của chị H1.

Ngày 13/11/2024, Chị H1 đã làm đơn trình báo gửi Công an Quận N và gửi kèm 01 USB lưu 01 video có nội dung việc Mai A trộm cắp tài sản.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 24/12/2024 kết luận: đến thời điểm bị xâm hại nhẫn vàng (loại vàng 99,99%) có khối lượng 5 chỉ có giá trị 37.733.335 đồng, dây chuyền vàng (loại vàng 75%) có khối lượng 06 chỉ có giá trị 33.963.396 đồng. Đến thời điểm bị xâm hại, tài sản nêu trên có giá 71.696.731 đồng (bảy mươi mốt triệu, sáu trăm chín mươi sáu nghìn bảy trăm ba mươi mốt đồng chẵn).

Tại bản kết luận giám định số 469/KL-KTHS ngày 22/02/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: không đủ cơ sở để xác định tập tin có phần mở rộng “MP4", dung lượng 90,4 MB, mã MD5: 762CAE43517DC11EE52F33B81EC17689 được lưu trong USB nhãn hiệu KINGSTON 32GB đã qua sử dụng (ký hiệu A) có bị cắt ghép chỉnh sửa hay không do nội dung hình ảnh được ghi nhận lại trên thiết bị khác không đảm bảo tính toàn vẹn và xác thực

Tại Cơ quan điều tra, Mai A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đồng thời khai nhận hàng ngày nguồn kinh tế để duy trì cuộc sống gia đình Mai A là từ nguồn lương của vợ chồng Mai A. Việc Mai A trộm cắp của chị H1 là do không có tiền tiêu xài cá nhân nên làm liều, đây không phải nguồn sống chính của gia đình. Bên cạnh đó Mai A còn khai nhận từ khoảng cuối năm 2012 đến năm 2018, Mai A sống chung và nhiều lần quan hệ tình dục với anh Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1990, trú tại Thôn K, xã V, huyện V, Hải Phòng), sinh ra hai người con chung là Nguyễn Bảo L, sinh ngày 10/01/2014 (lúc sinh L, Mai A 14 tuổi 03 tháng 11 ngày) và Nguyễn Bảo M, sinh ngày: 25/12/2016 cùng trú tại: Xã V, V, Hải Phòng (lúc sinh M, Mai A 17 tuổi, 02 tháng, 25 ngày. Ngày 23/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận N đã ra quyết định trưng cầu giám định huyết thống giữa H2, Mai A và cháu Bảo L, kết quả H2, cháu Bảo L và Mai A có quan hệ huyết thống trực hệ. Xác định hành vi của Nguyễn Văn H2 có dấu hiệu của tội Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi quy định tại Điều 146 Bộ luật Hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định tách hành vi tài liệu số 4795 ngày 16/4/2025 để tiếp tục xác minh làm rõ theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã có văn bản thông báo số 128 ngày 16/4/2025 đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo để thực hiện việc kiểm sát giải quyết tin báo tố giác tội phạm theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: 01 USB chứa video clip ghi nhận hành vi chiếm đoạt của Mai A được niêm phong trong 01 phong bì chuyển kèm hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Mai A cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường khắc phục cho chị H1 số tiền 108.500.000 đồng. Chị H1 tiếp tục yêu cầu Mai A trả thêm số tiền còn lại là 55.300.000 đồng là tiền chênh lệch giá vàng tính đến thời điểm 14/4/2025. Ngoài ra chị H1 không có yêu cầu gì khác. Bị cáo Mai A đồng ý trả cho chị H1 số tiền trên nhưng hiện tại chưa có tiền để trả.

Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKSNQ ngày 13/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc Mai A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị hại đề nghị HĐXX quyết định hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 9.296.731 đồng.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 38, điểm b, s khoản 1, Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 48 đến 54 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại: Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại chị H1 số tiền 9.296.731 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá, kết luận giám định, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 31/01/2024 đến ngày 26/5/2024, tại cửa hàng H3 địa chỉ số E P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng, Phạm Ngọc Mai A có hành vi nhiều lần lén lút chiếm đoạt của chị Phạm Khánh H1 với tổng số tiền 117.796.731 đồng.

[3] Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do số tiền bị cáo chiếm đoạt là 117.796.731 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Việc đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật là cần thiết để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Ngọc Mai A có hành vi nhiều lần lén lút chiếm đoạt của chị Phạm Khánh H1 với tổng số tiền 117.796.731 đồng, cụ thể: Ngày 31/01/2024, lấy cắp 6.000.000 đồng; ngày 01/02/2024, lấy 4.000.000 đồng; ngày 03/02/2024 lấy 3.000.000 đồng; ngày 04/02/2024 lấy 2.600.000 đồng; ngày 06/02/2024 lấy 4.500.000 đồng; ngày 07/02/2024 lấy 2.000.000 đồng; ngày 08/02/2024 lấy 4.000.000 đồng và ngày 09/02/2024 lấy 3.500.000 đồng. Ngày 20/5/2024, Mai A lấy 5.000.000 đồng; ngày 23/5/2024, lấy 6.500.000 đồng; ngày 26/5/2024, lấy 5.000.000 đồng và 01 nhẫn vàng ta loại nhẫn tròn nặng 05 chỉ trị giá 37.733.335 đồng và 01 dây đeo cổ vàng tây 18k loại vàng ta nặng 06 chỉ trị giá 33.963.396 đồng. Như vậy, phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn và sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[9] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, xét cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[10] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường khắc phục cho chị H1 số tiền 108.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 9.296.731 đồng nên ghi nhận sự thỏa thuận của các bên. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền còn lại là 9.296.731 đồng.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[14] Về vấn đề khác: Đối với hành vi của Mai A vào đầu tháng 7/2024 bị hại chưa cung cấp được các tài liệu liên quan đến nguồn gốc nhập, xuất hàng hóa nên chưa có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc Mai A phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Mai A 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho chị Phạm Khánh H1 số tiền còn lại là 9.296.731 (chín triệu, hai trăm chín mươi sáu nghìn, bảy trăm ba mươi mốt) đồng

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo Phạm Ngọc Mai A phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 464.837 (Bốn trăm sáu mươi tư nghìn, tám trăm ba mươi bảy) đồng án phí dân sự sơ thẩm

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Phạm Ngọc Mai A, bị hại chị Phạm Khánh H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Bấm Phạm Thị Thao

Nguyễn Thị Thu Huyền

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Phòng;
  • - PC10 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - PV06 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 104/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger