|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2025/HS-PT Ngày: 24/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thành Trung
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Lê Na
Ông Trần Đức Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thuận- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 107/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Ngọc N do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 301/2024/HSST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo: Phạm Ngọc N, Sinh ngày 16/5/1990 tại Ninh Bình. HKTT: số nhà A, đường T, phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 12/12. Con ông: Phạm Ngọc K. Con bà: Trần Thị Lư . Vợ con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không. (D chỉ bản số 408 công an quận H lập ngày 07/9/2024). Bắt và tạm giam ngày 04/9/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trương Đình T, sinh năm 1950
Luật sư Công ty L2; Địa chỉ: số D đường Đ, phường Đ, TP N, tỉnh Ninh Bình (Có mặt)
- Bị hại: Công ty Cổ phần X. Trụ sở ĐKKD: Ô đất số 09, Lô TT6 2D, Khu Đấu giá quyền sử dụng đất, phường X, quận N, TP Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Tiến Đ - SN 1994; Giám đốc Công ty (Vắng mặt)
- Những người liên quan trong vụ án:
- Anh Đặng Mạnh T1, sinh năm 1971; Nơi cư trú: số A, tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt)
- Anh Phạm Ngọc D1 - sinh năm 1983; Nơi cư trú: đường D, thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh bình (Vắng mặt)
- Anh Lê Thế Đ1 - sinh năm 1989; Nơi cư trú: phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
- Anh Trần Công T2 - sinh năm 1997; Nơi cư trú: 03/104/32 đường Á, phường Đ, TP T, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
- Anh Phạm Văn Đ2 - sinh năm 1981; Nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị A - sinh năm 1970; Nơi cư trú: số A, tổ H, phường C, TP T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
- Chị Trần Thị H - sinh năm 1991; Nơi cư trú: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
- Anh Tô Văn L - sinh năm 1973; Nơi cư trú: TDP C, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
- Anh Hoàng Văn D2 - sinh năm 1988; Nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang (Vắng mặt)
- Anh Đoàn Đức B - sinh năm 1993; Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- Anh Đinh Công S - sinh năm 1989; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt)
- Anh Vũ Đức P - sinh năm 1977; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
- Anh Vũ Minh C - sinh năm 1973; Nơi cư trú: số nhà E, TDP số A, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
- Bà Trần Thị L1 - sinh năm 1959 ; Nơi cư trú: số A, đường T, phố V, phường T, TP N, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần X (Công ty H1) hoạt động kinh doanh mua bán sản phẩm phục vụ việc sửa chữa ô tô, xe máy, máy cơ khí. Tháng 10/2023, Công ty H1 ký hợp đồng lao động với Phạm Ngọc N trong thời hạn 02 năm bắt đầu từ ngày 23/10/2023, mức lương thỏa thuận là 7.000.000 đồng và cộng thêm thưởng doanh số bán hàng. Công việc của N là nhân viên kinh doanh. N được Công ty H1 giao cho 01 xe ô tô bán tải, nhận hàng của Công ty, sau đó tự tìm kiếm khách hàng, thu tiền hàng và giao nộp về Công ty. Từ ngày 08/12/2023 đến ngày 23/12/2023, N nhận hàng của Công ty, sau đó đi giao và bán cho 12 khách hàng, gồm:
- - Ngày 08/12/2023, N bán hàng của Công ty cho anh Đặng Mạnh T1 và anh T1 đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 3.400.000 đồng.
- - Ngày 11/12/2023, N bán hàng của Công ty cho anh Phạm Ngọc D1 và anh D1 đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 6.144.000 đồng
- - Ngày 11/12/2023, N bán hàng của Công ty cho anh Lê Thế Đ1 tại địa chỉ số D N, phường P, TP T, tỉnh Thanh Hóa. Anh Đ1 đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 1.920.000 đồng
- - Ngày 13/12/2023, N bán hàng của Công ty cho anh Trần Công T2 và anh T2 đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 6.708.000 đồng
- - Ngày 15/12/2023, N bán hàng của Công ty cho anh Phạm Văn Đ2 và anh Đ2 đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 1.820.000 đồng
- - Ngày 18/12/2023, N bán hàng của Công ty cho chị Nguyễn Thị A và chị A đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 1.032.000 đồng
- - Ngày 19/12/2023, N bán hàng của Công ty cho chị Trần Thị H là chủ cửa hàng H2, chị H đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 840.000 đồng.
- - Ngày 19/12/2023, N bán hàng của Công ty cho anh Tô Văn L là chủ cửa hàng L3 tại địa chỉ xóm Làng, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Anh L đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 816.000 đồng.
- - Ngày 20/12/2023, N bán hàng của Công ty cho anh Hoàng Văn D2 là chủ cửa hàng sửa chữa xe máy tại địa chỉ thôn D, xã B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Anh D2 đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 1.992.000 đồng.
- - Ngày 20/12/2023, N bán hàng của Công ty cho anh Đoàn Đức B là chủ cửa hàng L4 tại địa chỉ thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Anh B đã thanh toán cho N bằng hình thức chuyển khoản số tiền là 15.480.000 đồng
- - Ngày 22/12/2023, N bán hàng của Công ty cho anh Đinh Công S và anh S đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 9.288.000 đồng
- - Ngày 22/12/2023, N bán hàng của Công ty cho anh Vũ Đức P và anh P đã thanh toán cho N bằng tiền mặt số tiền là 2.652.000 đồng
Tổng cộng N đã thu 52.096.000 đồng nhưng không giao nộp về Công ty H1 mà đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Sau khi phát hiện, Công ty H1 đã yêu cầu N hoàn trả số tiền này. Ngày 23/12/2023, N viết giấy cam kết sẽ hoàn trả tiền cho Công ty H1 vào ngày 25/12/2023. Nhưng đến ngày 25/12/2023, N không trả tiền cho Công ty H1 như đã cam kết.
Ngày 30/12/2023, N gọi điện cho anh Đoàn Đức B là chủ cửa hàng L4 để thu tiếp 10.320.000 đồng tiền hàng. Ngày 31/12/2023, N tiếp tục gọi điện cho khách hàng là anh Vũ Minh C và thu số tiền 1.800.000 đồng. Anh B, anh C đã chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của N tại A1. Cả hai khoản tiền này N không hoàn trả cho Công ty H1 và đã chi tiêu cá nhân hết.
Tổng số tiền Phạm Ngọc N đã chiếm đoạt của Công ty Cổ phần H1 là 64.216.000 đồng.
Ngày 23/01/2024, đại diện Công ty H1 có đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H về hành vi chiếm đoạt tiền của Phạm Ngọc N. Ngày 04/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã bắt tạm giam đối với N. Tại Cơ quan Điều tra, N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định số 2935/KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K1 - Công an T3 kết luận: chữ viết, chữ ký đứng tên Phạm Ngọc N trên bản cam kết đề ngày 23/12/2023 là chữ ký, chữ viết của Phạm Ngọc N
Cơ quan Điều tra đã làm việc với những khách hàng đã mua hàng và trả tiền cho N, những người này có lời khai phù hợp với lời khai của N về việc đã nhận hàng và trả đủ tiền hàng cho N.
Về dân sự: Công ty H1 yêu cầu N hoàn trả số tiền 64.216.000 đồng. Hiện nay, N chưa trả được số tiền này cho Công ty H1.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 301/2024/HSST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố: Phạm Ngọc N phạm tội "Tham ô tài sản"
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38; 54 - BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt: Phạm Ngọc N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2024.
Ngoài ra bản án còn tuyên về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 31/12/2024 bị cáo Phạm Ngọc N có đơn kháng cáo cho rằng Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt bị cáo về tội Tham ô tài sản là không đúng và xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 31/12/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L1 kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm số 301/2024/HSST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phạm Ngọc N, bà Trần Thị L1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị: Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc N. Không chấp yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Lư . Sửa bản án số 301/2024/HSST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38; 54 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Phạm Ngọc N từ 04 - 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2024.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Bị cáo Phạm Ngọc N không có ý định chiếm đoạt tài sản của công ty. Hành vi của bị cáo không đủ các yếu tố cấu thành tội Tham ô tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355 hủy bản bản sơ thẩm, trả hồ sơ để điều tra lại vụ án theo đúng thẩm quyền.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và Trần Thị L1 xác định tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo số tiền 64.216.000 đồng và đề nghị bị cáo phải có nghĩa vụ trả lại bà số tiền này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc N đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L1 vượt quá phạm vi yêu cầu kháng cáo.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày lời khai như đã trình bày tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Phạm Ngọc N là nhân viên kinh doanh có hợp đồng lao động (có thời hạn từ ngày 23/10/2023 đến ngày 23/10/2025) với Công ty Cổ phần H1. Phạm Ngọc N là nhân viên hợp đồng với Công ty, được giao quyền hạn trong việc bán hàng và thu tiền cho Công ty H1. Tuy nhiên N đã lợi dụng quyền hạn này để chiếm đoạt tài sản bị cáo có trách nhiệm quản lý, tự ý lấy tiền hàng của Công ty H1 để chi tiêu cá nhân. Trong thời gian từ ngày 08/12/2023 đến ngày 31/12/2023, N đã nhiều lần bán hàng của Công ty cho 14 khách hàng.
Lần 1. Tổng cộng N đã thu 52.096.000 đồng nhưng không giao nộp về Công ty H1 mà đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Sau khi phát hiện, Công ty H1 đã yêu cầu N hoàn trả. Ngày 23/12/2023, N viết giấy cam kết sẽ hoàn trả tiền cho Công ty H1 vào ngày 25/12/2023. Nhưng N không trả tiền cho Công ty H1 như đã cam kết.
Lần 2. Ngày 30/12/2023, N gọi điện cho anh Đoàn Đức B là chủ cửa hàng L4 để thu tiếp 10.320.000 đồng tiền hàng. Ngày 31/12/2023, N tiếp tục gọi điện cho khách hàng là anh Vũ Minh C và thu số tiền 1.800.000 đồng. Anh B, anh C đã chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của N tại A1. Cả hai khoản tiền này N không hoàn trả cho Công ty H1 và đã chi tiêu cá nhân hết. Tổng số tiền 2 lần N chiếm đoạt là 64.216.000 đồng, nhưng N không giao nộp số tiền này cho Công ty H1 mà đã chiếm đoạt để chi tiêu sử dụng cá nhân hết.
Với hành vi như trên, bị cáo Phạm Ngọc N bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc N phạm tội "Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước, làm mất trật tự trị an xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo bồi thường cho bị hại, thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo N đã nhiều lần bán hàng của Công ty cho 14 khách hàng và thu tổng số tiền là 64.216.000 đồng, nhưng N không giao nộp số tiền này cho Công ty H1 mà chiếm đoạt để chi tiêu sử dụng cá nhân hết. Tại khoản 6 Điều 353 Bộ luật hình sự quy định: Công ty Cổ phần H1 là doanh nghiệp ngoài nhà nước, Phạm Ngọc N là nhân viên hợp đồng với Công ty, được giao quyền hạn trong việc bán hàng và thu tiền cho Công ty H1. Tuy nhiên N đã lợi dụng quyền hạn này để chiếm đoạt tài sản bị cáo có trách nhiệm quản lý, tự ý lấy tiền hàng của Công ty H1 để chi tiêu cá nhân. Do đó, hành vi của Phạm Ngọc N đã phạm vào tội "Tham ô tài sản" được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự với tình tiết phạm tội 02 lần trở lên.
Do vậy. Quyết định của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt bị cáo về tội danh và hình phạt là có căn cứ và đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên Bản án số 301/2024/HSST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội về tội danh và hình phạt. Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Lư .
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Lư .
- Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Giữ nguyên Bản án số 301/2024/HSST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc N phạm tội "Tham ô tài sản"
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Ngọc N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2024.
Bị cáo Phạm Ngọc N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trương Thành Trung |
Bản án số 104/2025/HS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tham ô tài sản
- Số bản án: 104/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc N - Điều 353
