TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2025/HNGĐ-ST Ngày 26 tháng 6 năm 2025 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Sáng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Viên
2. Bà Nguyễn Thị Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thẩm tra viên chính.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai tham gia phiên tòa:
Ông Trần Xuân Long – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 32/2025/TLST–HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1986
ĐKHKTT: Thôn C, xã T, huyện Q, Tp ..
Nơi ở hiện tại: Thôn B, xã P, huyện Q, Tp ..
Bị đơn: Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Q, Tp .;
Nguyên đơn và bị đơn đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn là chị Hoàng Thị T trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Hoàng Văn S đã tìm hiểu tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội vào ngày 16/7/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không hoà hợp. Mâu thuẫn nặng nề nhất là vào năm 2014, anh S đánh đập tôi nhiều lần khiến tôi phải nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Khi mâu thuẫn xảy ra, bản thân chúng tôi và gia đình hai bên đã cố gắng hoà giải nhưng mâu thuẫn không được giải quyết, anh S vẫn chứng nào tật nấy, không chịu thay đổi. Nay mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó đề nghị Tòa án cho chúng tôi được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Minh Q, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2008 và cháu Hoàng Quốc K, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012. Hiện 02 cháu đang ở với bố tại xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội. Khi ly hôn tôi muốn để các cháu tiếp tục ở với bố để ổn định chỗ ăn, chỗ ở và ổn định việc học hành của các cháu.
- Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Không có.
- Về công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân: Không có.
- Về các khoản vay nợ: Không có.
- Về án phí: Tôi xin tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
* Bị đơn là anh Hoàng Văn S có quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị Hoàng Thị T đã tìm hiểu tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội vào ngày 16/7/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, tôi xác nhận trong lúc nóng giận vợ chồng có xô xát nhưng tôi còn tình cảm với vợ tôi và thương các con chung nên tôi đề nghị Toà án hoà giải cho vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con chung.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Minh Q, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2008 và cháu Hoàng Quốc K, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012. Hiện 02 cháu đang ở với bố tại xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội. Trường hợp nếu phải ly hôn tôi muốn tiếp tục nuôi dưỡng con chung và yêu cầu chị T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung là 1.500.000 đ/1 tháng/02 cháu kể từ tháng 7 năm 2025 cho đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi).
- Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Không có.
- Về công sức đóng góp trong thời kỳ hôn nhân: Không có.
- Về các khoản vay nợ: Không có.
- Về án phí: Tôi đề nghị nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/3/2025, con chung là cháu Hoàng Quốc K và cháu Hoàng Minh Q trình bày nguyện vọng muốn được ở cùng bố sau khi chị T, anh S ly hôn.
Tại biên bản xác minh ngày 06/6/2025, đại diện UBND xã T cung cấp về việc kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh S. Cụ thể: Chị Hoàng Thị T kết hôn với anh Hoàng Văn S trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 7 năm 2007, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại thôn C, xã T, huyện Q, thành phố Hà Nội. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn vì lý do anh S nghi ngờ chị T có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Thậm chí xảy ra xung đột, anh S đã đánh chị T và bị Công an xã T xử phạt hành chính. Khi mâu thuẫn xảy ra, mặc dù hai bên gia đình có biết và hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị T đã bỏ về nhà mẹ đẻ sống ly thân từ tháng 11/2024 cho đến nay không về. Nay chị Hoàng Thị T làm đơn xin ly hôn anh Hoàng Văn S, đề nghị Toà án nhân dân huyện Quốc Oai giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị đơn là anh Hoàng Văn S thay đổi quan điểm về nuôi con chung sau khi ly hôn như sau: Anh không đồng ý ly hôn. Trong trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S thì anh đề nghị Toà án giao cháu Hoàng Minh Q, sinh ngày 06/5/2008 cho anh và giao cháu Hoàng Quốc K, sinh ngày 02/9/2012 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Về tài sản chung, công nợ chung: Không có; Về án phí: Đề nghị chị T chịu toàn bộ án phí theo quy định.
Nguyên đơn là chị T giữ nguyên quan điểm xin ly hôn. Trong trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị thì chị đồng ý theo quan điểm của anh S đã nêu ở trên.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
+ Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 58; Điều 63, Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị T được ly hôn anh S. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Minh Q, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2008 và cháu Hoàng Quốc K, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012, khi ly hôn chị T, anh S thống nhất giao cháu Q cho anh S và giao cháu K cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho các bên cho đến khi có quyết định khác thay đổi. Về tài sản chung, công nợ chung: Hai bên đều xác nhận là không có và không yêu cầu Toà án giải quyết. Về án phí: Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để tuyên nguyên đơn chịu án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết xin ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn, bị đơn cư trú tại địa bàn huyện Q, thành phố Hà Nội nên Toà án nhân dân huyện Quốc Oai thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2] Về nội dung: Chị T, anh S có đủ điều kiện, kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Q ngày 16/7/2007. Vì vậy, hôn nhân của anh chị được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng thường bất đồng quan điểm, sống không hoà hợp. Chị T xác định vợ chồng không còn tình cảm nên đề nghị được ly hôn, anh S không đồng ý ly hôn vì anh còn tình cảm với vợ và cũng vì thương các con nên anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con chung. Tuy nhiên anh S không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị T kiên quyết xin ly hôn, không mong muốn đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, thậm chí xảy ra việc anh S đánh chị T và bị xử phạt hành chính. Như vậy, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Hoàng Văn S.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Minh Q, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2008 và cháu Hoàng Quốc K, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012. Nguyện vọng của các cháu khi bố, mẹ ly hôn là được ở với bố. Trong trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T thì chị T, anh S đều thống nhất giao cháu Q cho anh S và giao cháu K cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các bên đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cần ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của chị T, anh S về việc nuôi con chung sau khi ly hôn.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Các bên đều xác nhận là không có tài sản chung, không có công nợ chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị T về việc chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Các điều 147, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị T. Chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Hoàng Văn S.
- Về con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của anh Hoàng Văn S và chị Hoàng Thị T về việc nuôi con chung khi ly hôn như sau: Giao cháu Hoàng Minh Q, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2008 cho anh Hoàng Văn S và giao cháu Hoàng Quốc K, sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Q, cháu K đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định khác thay đổi. Sau khi ly hôn, anh S, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hoàng Văn S và chị Hoàng Thị T cho đến khi có quyết định khác thay đổi.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Không có.
- Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị T về việc chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được đối trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội ngày 07/3/2025 theo biên lai số 0020377. Chị T đã nộp xong tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn S có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Sáng |
Bản án số 104/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI – TP. HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 104/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị Tươi và anh Hoàng Văn Sang về các vấn đề: quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung,...
