Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 104/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23/5/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tân
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Dân
    Ông Lê Đình Ty
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Phương Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 44/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu T, sinh năm 1998, “Vắng mặt”.

    Nơi ĐKTT: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

    Địa chỉ hiện nay: Thôn 10, xã Dân Quyền, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

  2. Bị đơn: Anh Bùi Công L, sinh năm 1992, “Vắng mặt”.

    Hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

    Nơi ở hiện nay: Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 16/02/2025, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị Thu T trình bày:

  • Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Công L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 24/10/2018.
  • Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, đến tháng 6/2022 chị và anh L cùng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, trong quá trình chung sống và làm việc vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân, trong thời gian ly thân chị và anh L có chia rõ số tiền đi xuất khẩu lao động phải trả, theo đó anh L phải trả 240.000.000đ; chị T phải trả 170.000.000đ, ngoài ra mỗi tháng mỗi người phải gửi về 5.000.000đ cho bà nội để nuôi con cho anh chị. Tuy nhiên anh L không thực hiện đúng như thỏa thuận của hai vợ chồng, chị đã thanh toán hết số nợ còn anh L mới trả được 150.000.000đ, số nợ còn lại 90.000.000đ, đến tháng 01/2024 vợ chồng hòa hợp và cùng nhau thanh toán hết số nợ.
  • Tiếp đó đến tháng 10/2024 vợ chồng lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh L ham chơi, ham bạn bè, rượu chè, từ đó vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không ai quan tâm đến nhau nữa nên chị đã quyết định trở về Việt Nam làm ăn còn anh L vẫn ở lại Đài Loan, nhưng địa chỉ cụ thể hiện nay của anh L ở Đài Loan thì chị T không biết. Nay, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
  • Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Bùi Khánh A, sinh ngày 06/8/2019. Khi ly hôn nguyện vọng của chị là được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu A, theo đơn khởi kiện chị T yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án chị T tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản, công nợ chung: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản làm việc, bà Lê Thị Hảo M đẻ anh Bùi Công L trình bày:

  • Về hôn nhân: Chị T và anh L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại UBND xã D, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, sau khi cưới thì anh chị sống chung với gia đình ông bà được gần 03 năm sau đó ra ở riêng. Đến tháng 6/2022 cả hai anh chị sang Đài Loan làm ăn, đầu năm 2025 chị T về Việt Nam còn anh L vẫn đang ở Đài Loan. Quá trình chung sống anh chị có mâu thuẫn thế nào thì gia đình không nắm được. Nay chị T có đơn xin ly hôn, gia đình cũng đã báo cho anh L biết và anh L cũng đồng ý ly hôn, do đó gia đình đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T và anh L được ly hôn.
  • Gia đình và anh L vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại nhưng anh L không nói cho gia đình biết địa chỉ cụ thể ở đâu, gia đình chỉ biết anh L làm việc tại Đài Loan. Anh L có nhờ ông bà nhận văn bản của Tòa án.
  • Về con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Khánh An S ngày 06/8/2019, ly hôn, anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, nên đề nghị Tòa án giao cháu A cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con;
  • Về tài sản và nợ chung: Theo bà H được biết thì anh L và chị T không có tài sản và không có nợ chung.

Toà án gửi cho anh L các văn bản của Toà án thì ông bà sẽ nhận và có trách nhiệm thông báo cho anh L được biết.

* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

  • Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc thực hiện các thủ tục kể từ khi tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định.
  • Về nội dung: Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Thu T, xử cho chị T được ly hôn anh L. Về con chung: Giao cháu Bùi Khánh An S ngày 06/8/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con
  • Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Về thẩm quyền của Tòa án: Chị Lê Thị Thu T là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là anh Bùi Công L hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
    2. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Chị T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh L ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh L tại nước ngoài. Bà Lê Thị H là mẹ đẻ của anh L trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh L tại Đài Loan, tuy anh L thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Gia đình vẫn thường xuyên liên lạc với anh L nên đã đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh L được biết. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
    3. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị Thu T có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn là anh Bùi Công L mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
  2. Về nội dung:
    1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thu T và anh Bùi Công L kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp. Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị T đều trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn và ly thân một thời gian, không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã không liên hệ với nhau. Nay chị T có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình được biết anh L cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị T được ly hôn anh L.
    2. Về con: Anh L và chị T có 01 con chung là cháu Bùi Khánh An S ngày 06/8/2019. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của chị T xin được trực tiếp nuôi con là chính đáng vì hiện nay anh L đang lao động tại Đài Loan, không thể trực tiếp nuôi con được. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chưa thành niên, cần giao cháu Khánh A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, xét việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T trên cơ sở tự nguyện nên được chấp nhận.
    3. Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí: Chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Thu T.

  • - Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Thu T được ly hôn anh Bùi Công L.
  • - Về con: Công nhận cháu Bùi Khánh An S ngày 06/8/2019 là con chung của chị Lê Thị Thu T và anh Bùi Công L. Giao cháu Bùi Khánh A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Bùi Công L không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Anh Bùi Công L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  • - Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
  • - Về án phí: Chị Lê Thị Thu T phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo Biên lai thu số 0000588 ngày 18/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa (Chị T đã nộp đủ án phí).
  • - Về quyền kháng cáo:
  • Chị Lê Thị Thu T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

    Anh Bùi Công L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Dân Quyền;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; Lưu Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 104/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị Thu T khởi kiện ly hôn anh Bùi Công L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger