Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương;

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phan Văn Cường;

2/ Bà Nguyễn Thị Kim Uyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 130/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 68/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ A, sinh năm: 1990; thường trú: số 118/38, đường T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: số A, đường số D, khu nhà ở A, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lưu Hữu L, sinh năm: 1978; thường trú: số 118/38, đường T, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: C26, khu dân cư N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 29/4/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ A trình bày:

Bà Trần Thị Mỹ A và ông Lưu Hữu L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2012 ngày 08/6/2012.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay bà A và ông L không còn chung sống với nhau. Bà A xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông L không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông L. Hiện nay, bà A làm kinh doanh quán cà phê thu nhập mỗi tháng khoảng 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa bà và ông L có 02 con chung là cháu Lưu Trần Gia P, sinh ngày 05/6/2013 và Lưu Trần Gia P1, sinh ngày 05/5/2015. Hiện nay cháu P đang sống cùng bà A, cháu P1 đang sống cùng ông L. Sau khi ly hôn, bà A yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P và ông L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P1. Bà A và ông L không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Lưu Hữu L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, yêu cầu ông Lưu Hữu L có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ A nhưng ông L không có ý kiến cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án triệu tập ông L tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia hòa giải vào ngày 28/5/2025 nhưng ông L vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến, không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ gì để thể hiện ông L đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà A.

- Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Trần Thị Mỹ A và ông Lưu Hữu L tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường A và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, bà Trần Thị Mỹ A không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường A tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường A, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng bà Trần Thị Mỹ A và ông Lưu Hữu L. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông, bà thì Hội liên hiệp phụ nữ phường A không biết được.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, việc tiến hành tố tụng đã đảm bảo tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông L đã có những mâu thuẫn trầm trọng. Sau khi bà A nộp đơn ly hôn, Tòa án đã triệu tập ông L đến để hòa giải nhưng ông L không đến, điều này chứng tỏ ông L cũng không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa ông và bà A. Do vậy, việc bà A yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Về con chung: Cháu P đang sống cùng bà A và có nguyện vọng được ở với bà A, cháu P1 đang sống cùng ông L và có nguyện vọng được ở với ông L nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao cháu P cho bà A và cháu P1 cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung do các đương sự không tranh chấp nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lưu Hữu L đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt 02 lần liên tiếp không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ A và ông Lưu Hữu L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2012 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/6/2012 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bà A thì thực tế cuộc sống vợ chồng của bà và ông L có nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi, cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm mục đích hôn nhân không đạt được. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập ông L đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông L không đến tham gia hòa giải, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và chính ông L cũng không quan tâm và không muốn hàn gắn. Vì vậy, bà A yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3] Về nuôi con chung: Giữa bà Trần Thị Mỹ A và ông Lưu Hữu L có 02 con chung là cháu Lưu Trần Gia P, sinh ngày 05/6/2013 và Lưu Trần Gia P1, sinh ngày 05/5/2015. Sau khi ly hôn bà A yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi cháu P, giao cho ông L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P1.

Tòa án đã triệu tập ông L để trình bày ý kiến về việc nuôi con chung nhưng ông L vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng. Xét thấy, hiện cháu P đang sống cùng bà A và có nguyện vọng mong muốn ở với bà A, cháu P1 đang sống cùng ông L và có nguyện vọng được ở với ông L. Vì vậy, việc giao cháu P cho bà A, cháu P1 cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn sẽ bảo đảm quyền lợi của phụ nữ, trẻ em khi vợ chồng ly hôn, phù hợp với nguyện vọng của các cháu và quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trần Thị Mỹ A không yêu cầu ông Lưu Hữu L phải cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của bà A nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà A không yêu Tòa án giải quyết.

[6] Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn, nuôi con của bà Trần Thị Mỹ A đối với ông Lưu Hữu L.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Mỹ A phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ A về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đối với bị đơn ông Lưu Hữu L.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ A được ly hôn với ông Lưu Hữu L [theo giấy chứng nhận kết hôn số 53/2012 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/6/2012].
    2. Về nuôi con chung: Buộc ông Lưu Hữu L giao con chung cháu Lưu Trần Gia P, sinh ngày 05/6/2013 cho bà Trần Thị Mỹ A trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc bà Trần Thị Mỹ A giao con chung cháu Lưu Trần Gia P1, sinh ngày 05/5/2015 cho ông Lưu Hữu L trực tiếp nuôi dưỡng.

      Sau khi ly hôn, bà Trần Thị Mỹ A và ông Lưu Hữu L phải tạo điều kiện cho nhau thăm nom con, không ai có quyền cản trở bà A và ông L thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

    3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Mỹ A không yêu cầu ông Lưu Hữu L cấp dưỡng nuôi con.
    4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Trần Thị Mỹ A không yêu cầu giải quyết
  2. Về án phí dân sự Hôn nhân sơ thẩm: Bà Trần Thị Mỹ A phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008354 ngày 16/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ A và bị đơn ông Lưu Hữu L vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - CCTHADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Đương sự (02);
  • - Lưu: VP, HS (03).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 104/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Mỹ A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger