Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10- NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 104/2025/HNGĐ-ST

Ngày 17-12-2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn giữa anh H và chị H”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Kim An

Ông Trần Xuân Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Vi Hoa - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu

vực 10 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên

toà: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 171/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn I, xã X, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn I, xã X, tỉnh Ninh Bình;

hiện ở: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hưng Yên.

(Tại phiên toà anh H, chị H1 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn anh Bùi Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chi Lê Thị H1 tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân và đã được UBND xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nay là xã X, tỉnh Ninh Bình đăng ký kết hôn vào ngày 16/12/2016. Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 1 con. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự chia sẻ trong cuộc sống. Từ năm 2021 đến nay vợ chồng đã sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Anh xác định vợ chồng không còn tình cảm hạnh phúc đã tan vỡ nên nguyện vọng của anh là được xin ly hôn chị Lê Thị H1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Bùi Trung H2, sinh ngày 26/6/2017; hiện con đang ở với anh, khi ly hôn anh xin nhận nuôi con và không yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con; hiện anh đang làm ở công ty giầy da mức lương thu nhập bình quân khoản 7 triệu đồng đảm bảo nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan kinh tế với ai, anh không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Tại bản tự khai bị đơn chị Lê Thị H1 trình bày:

Anh H trình bày về quan hệ hôn nhân và mẫu thuẫn vợ chồng là đúng. Sau khi lấy nhau vợ chồng ở cùng với bố mẹ anh H. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung. Từ năm 2021 đến nay vợ chồng đã ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm hạnh phúc tan vỡ nay anh H xin ly hôn chị hoàn toàn nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung tên là Bùi Trung H2, sinh ngày 26/6/2017; hiện con đang ở với anh H, khi ly hôn chị nhường quyền cho anh H tiếp tục nuôi con và chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan kinh tế với ai chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Trường

Anh Bùi Văn H và chị Lê Thị H1 là người có nơi cư trú tại xã X.

2

* Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn H và chị Lê Thị H1 tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định nay là xã X, tỉnh Ninh Bình đăng ký kết hôn vào ngày 16/12/2016. Anh H và chị H1 mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Căn cứ vào lời trình bày của anh H và chị H1 cũng như thực trạng hôn nhân của các bên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh H và chị H1 theo quy định của pháp luật.

* Về con chung: Anh H và chị H1 có 01 con chung là Bùi Trung H2, sinh ngày 26/6/2017. Căn cứ vào lời trình bày của anh H và chị H1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật cho phù hợp với các bên.

* Về tài sản: Ở địa phương anh H và chị H1 không có tài sản, đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là phù hợp

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án, căn cứ vào các khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Bùi Văn H và chị Lê Thị H1; Về con chung: Giao cho anh Bùi Văn H tiếp tục chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cháu Bùi Trung H2, sinh ngày 26/6/2017. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Bùi Văn H không yêu cầu chị Lê Thị H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Lê Thị H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

Về tài sản: Đương sự không yêu cầu Toà án xem xét là phù hợp.

Về án phí: Anh H phải nộp án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật.

3

[2] Về hôn nhân: Anh Bùi Văn H và chị Lê Thị H1 kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống anh H và chị H1 mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hoà hợp, bất đồng quan điểm, nay anh H xin ly hôn chị H1 nhất trí. Xét thấy, mẫu thuẫn giữa anh H và chị H1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa anh Bùi Văn H và chị Lê Thị H1 là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh H và chị H1 có 01 con chung là Bùi Trung H2, sinh ngày 26/6/2017. Nay ly hôn anh H và chị H1 thống nhất là anh H nuôi con, chị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy anh H và chị H1 không tranh chấp về nuôi con và hai bên thống nhất anh H nhận nuôi con và ghi nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với thực tế và theo Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự đều thống nhất là vợ chồng không có tài sản, không liên quan kinh tế với ai, không yêu cầu Toà án xem xét là phù hợp

[5] Về án phí: Anh Bùi Văn H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Bùi Văn H và chị Lê Thị H1

2. Về con chung: Giao cho anh Bùi Văn H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con Bùi Trung H2, sinh ngày 26/6/2017. Ghi nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H1 được quyền và nghĩa thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Anh H và chị H1 không yêu cầu Toà án xem xét

4

4. Về án phí: Anh Bùi Văn H phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0002346 ngày 29/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND + VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 10 - Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Long

5

6

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2025/HNGĐ-ST ngày 17/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 104/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger