Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/6/2025

V/v ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt;
  2. Bà Mai Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà:

Không.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2025/QĐXX-ST ngày 06 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 148/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Pham Duy T, sinh năm 1980; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: tổ A, ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

    SĐT: 0987.687.xxx

  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Bé H, sinh năm 1989; (vắng mặt)

    Nơi cư trú: tổ A, ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

    SĐT: 0979.183.xxx

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn anh Phạm Duy T trình bày:

2

- Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Nguyễn Bé H do quen biết, tìm hiểu tiến đến hôn nhân, được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới năm 2007, có đăng ký kết hôn năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, chị H sống và làm dâu bên gia đình anh, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Sau Tết Nguyên Đ chị H đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở G. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị H có tình cảm với người khác, đây là lần thứ hai chị H bỏ nhà đi... Chị H bỏ nhà đi từ tháng 01/2025 đến nay, đó cũng là thời gian ly thân của anh và chị H. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh yêu cầu ly hôn với chị H.

- Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Phạm Thị Tuyết M, sinh ngày 15/11/2008. Hiện tại đang sống với anh T. Khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn chị Nguyễn Bé H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng chị H đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Phạm Duy T khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với bị đơn chị Nguyễn Bé H, bị đơn chị H hiện có nơi cư trú tại: tổ A, ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về tranh chấp ly hôn, nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Ngày 29/4/2025, nguyên đơn anh Phạm Duy T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn chị Nguyễn Bé H đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Duy T thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Theo nguyên đơn anh T trình bày thì anh và bị đơn chị Nguyễn Bé H do quen biết, tìm hiểu mới tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị được xem là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh T trình bày do chị H có tình cảm với người khác, nên chị H đã nhiều lần

3

bỏ nhà đi, gần đây nhất chị H bỏ nhà đi là từ tháng 01/2025 đến nay, đó cũng là thời gian ly thân của anh và chị H.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần mở phiên hoà giải nhằm tạo điều kiện để anh T và chị H hàn gắn tình cảm, nhưng anh T vẫn kiên quyết ly hôn, chị H được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này chứng tỏ chị H không có nguyện vọng đoàn tụ với anh T. Chị H và anh T đã có thời gian ly thân 01/2025 đến nay, nhưng anh, chị không hàn gắn tình cảm lại được.

Tất cả điều này cho thấy hôn nhân của anh T và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T.

[2.2] Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên: Phạm Thị Tuyết M, sinh ngày 15/11/2008. Hiện tại đang sống với anh T. Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 28/4/2025, cháu M có nguyện vọng được sống với cha nếu cha mẹ ly hôn. Xét thấy, cháu M đã sống ổn định với anh T, chị H không có ý kiến được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của cháu M được ổn định, không bị xáo trộn sau khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu M cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; anh T phải tạo điều kiện thuận lợi cho chị H được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai cản trở khi anh T thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng: chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh T không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008200 ngày 08/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

4

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Duy T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Duy T được ly hôn với chị Nguyễn Bé H.
  2. Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên: Phạm Thị Tuyết M, sinh ngày 15/11/2008. Anh Phạm Duy T được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Tuyết M.

    Về cấp dưỡng: chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh T không yêu cầu.

    Anh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị H thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Thị Tuyết M.

    Nếu người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người còn lại thì người còn lại có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng dựa trên các quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  4. Về án phí: Anh Phạm Duy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008200 ngày 08/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Duy T và chị Nguyễn Bé H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án

5

dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thành;
  • - Phòng KTNV& THA;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 104/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh T yêu cầu ly hôn với chị H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger