|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06-6-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu và bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.
- - Thư ký phiên toà: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện P
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 61/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 885/2025/QÐST-HNGĐ ngày 27/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn T, xã B, thị xã H, thành phố H; có mặt.
Bị đơn: Anh Dương Trọng T, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 3 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn- chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Dương Trọng T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã H, thành phố H vào ngày 20/7/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian, sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, giữa vợ chồng thường xuyên cải vã. Từ tháng 5 năm 2023 đến nay, chị H và anh T sống ly thân không thường xuyên liên lạc. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Nay chị Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Dương Trọng T.
Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị H trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là Dương Mỹ An N, sinh ngày 27/3/2021. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết giao cháu Dương Mỹ An N cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để bị đơn- anh Dương Trọng T đến tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng anh T vẫn vắng mặt nên không có lời khai.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H, cho chị H được ly hôn với anh Dương Trọng T. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung là Dương Mỹ An N, sinh ngày 27/3/2021 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn- anh Dương Trọng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T không đến làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ là tự chối bỏ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Dương Trọng T chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Xét về quá trình hôn nhân giữa chị H và anh T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã, vợ chồng không tôn trọng nhau, không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Do đó, chị H và anh T đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, cuộc sống mỗi người tự lo liệu. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được. Tòa án đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như mở phiên tòa lần thứ nhất nhưng anh T đều vắng mặt, đã chứng tỏ anh T có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến cuộc hôn nhân này.
Như vậy, vợ chồng chị H, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh T là đúng quy định của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tại phiên tòa.
[3] Về con chung: Chị H và anh T có 01 người con chung là cháu Dương Mỹ An N, sinh ngày 27/3/2021; hiện đang sinh sống cùng chị H. Chị H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của chị H là chính đáng, phù hợp với thực tế hiện nay cháu Dương Mỹ An N đang do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị H.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị H rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Chị H trình bày chị có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H, cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Dương Trọng T. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao người con chung là Dương Mỹ An N, sinh ngày 27/3/2021 cho chị Nguyễn Thị Thu H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; anh Dương Trọng T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn; được khấu hết vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002594 ngày 13/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 104/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 104/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu Hằng xin ly hôn với Dương Trọng Thái và tranh chấp nuôi con
