TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05/12/2025 V/v Tranh chấp Hôn nhân & gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Tuyết - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 311/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Trần Thị Khánh N, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt); CCCD: [...] cấp ngày 15/3/2024
- Nơi ĐKTT: Thôn P, xã P, thành phố Hà Nội.
- + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị N là: Ông Dương Văn B và ông Dương Văn M – Đều là Luật sư tại Công ty L3 thuộc L4.
- * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- CCCD: [...] cấp ngày 20/8/2014
- Nơi ĐKTT: Thôn P, xã P, thành phố Hà Nội.
- Hiện anh Nguyễn Văn L đang chấp hành án tại trại giam N2.
- *Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Công L1, sinh năm 1970 (bố đẻ của anh L); CCCD: [...] cấp ngày 09/5/2021; Nơi ĐKTT: thôn P, xã P, Thành phố Hà Nội (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải chị Trần Thị Khánh N trình bày: Chị và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ vào ngày 17/9/2014. Sau khi kết hôn, chị và anh L cùng chung sống tại thôn P, xã P, thành phố Hà Nội. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng vài năm gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không còn yêu thương, quan tâm lẫn nhau. Anh L2 phải đi chấp hành án thời gian dài do vi phạm pháp luật, chị và các con không có chỗ dựa nên đã bị gia đình chồng hắt hủi đuổi ra khỏi ngôi nhà mà trước đây vợ chồng chị sinh sống và hiện tại mẹ con chị về nhà ngoại để ở. Nay chị nhận thấy không thể nương tựa vào anh L2 cũng như gia đình nhà chồng nên mẹ con chị đã tự chăm lo cuộc sống và dựa vào bố mẹ đẻ của chị. Do vậy, chị nhận thấy không thể duy trì quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Văn L nên đề nghị Toà án giải quyết việc ly hôn giữa chị là anh L để chấm dứt quan hệ hôn nhân này.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Băng D, sinh ngày 24/11/2014 và Nguyễn Tiến H, sinh ngày 15/10/2018. Hiện hai con đang ở với chị. Do anh L đang chấp hành án nên sau khi vợ chồng ly hôn chị đề nghị tiếp tục được chăm sóc cả 2 con và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ, công sức chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải anh Nguyễn Văn L trình bày: anh và chị Trần Thị Khánh N kết hôn tự nguyện và chung sống vợ chồng như chị N trình bày là đúng. Tuy nhiên, vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng. Nay chị N xin ly hôn anh đồng ý.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Băng D, sinh ngày 24/11/2014 và Nguyễn Tiến H, sinh ngày 15/10/2018. Hiện hai con đang ở với chị N. Sau khi vợ chồng ly hôn anh đề nghị giao cả 2 con chung cho bố đẻ anh là ông Nguyễn Công L1 chăm sóc, giáo dục. Không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản, công nợ, công sức chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại Biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Công L1 là bố đẻ của anh L trình bày: Anh Linh con trai ông có nhờ ông trông nom, chăm sóc cả 2 cháu là Nguyễn Thị Băng D, sinh ngày 24/11/2014 và Nguyễn Tiến H, sinh ngày 15/10/2018 con chung của anh L và chị N. Hiện nay ông làm ruộng, trang trại nên điều kiện gia đình chỉ đủ để nuôi con của ông. Giữa ông và mẹ đẻ anh L hiện đang ly thân. Mong muốn của anh L muốn ông chăm sóc cả 2 cháu, ông nhất trí. Tuy nhiên, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, chị N, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như trong đơn xin ly hôn. Anh L2 đã trình bày quan điểm và có đề nghị xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho chị Trần Thị Khánh N được ly hôn với anh Nguyễn Văn L; Về con chung: Giao chị N trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cả 2 con chung là Nguyễn Thị Băng D, sinh ngày 24/11/2014 và Nguyễn Tiến H, sinh ngày 15/10/2018; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh L cho đến khi có đề nghị mới hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Về tài sản, công nợ, công sức chung không đề nghị xem xét giải quyết. Chị N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Dương Văn M và luật sư Dương Văn B gửi bản luận cứ trình bày như sau:
Căn cứ quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị N được ly hôn với anh L; Về con chung: vợ chồng chị N và anh L có 2 con chung là Nguyễn Thị Băng D, sinh ngày 24/11/2014 và Nguyễn Tiến H, sinh ngày 15/10/2018. Chị N đề nghị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Quá trình giải quyết anh L không đồng ý giao chị N trực tiếp nuôi dưỡng chăm giáo dục cả 2 con chung. Tuy nhiên, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì trong việc quyết định ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cần xem xét đến điều kiện hoàn cảnh, nơi ở ổn định, thu nhập của vợ hoặc chồng và nguyện vọng của các con để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, tạo điều kiện cho các con có môi trường phát triển tốt nhất. Hơn nữa anh L đang đi chấp hành án nên không thể trực tiếp nuôi dưỡng các con. Vì vậy, đề nghị HĐXX giao cháu D và cháu H cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Chị Trần Thị Khánh N làm đơn ly hôn, nộp các tài liệu kèm theo và đã nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn. Anh Nguyễn Văn L có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã P, thành phố Hà Nội vì vậy Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ việc là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án anh L đều đã được thông báo, được nhận các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, anh L có đơn xin xét xử vắng mặt; nguyên đơn; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Khánh N và anh Nguyễn Văn N1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã Đ vào ngày 17/9/2014 là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh L vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Trong thời gian chung sống vợ chồng không biết quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân trầm trọng, vợ chồng đã có thời gian sống ly thân.
Xét thấy: Cuộc sống giữa mâu thuẫn từ lâu đã đến mức trầm trọng, sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N1 là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
- Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Băng D, sinh ngày 24/11/2014 và Nguyễn Tiến H, sinh ngày 15/10/2018. Chị N1 nuôi dưỡng, chăm sóc 02 cháu từ nhỏ đến nay. Mặt khác, việc giao cho chị N1 chăm sóc các con để đảm bảo được chăm sóc đầy đủ, tốt nhất cả về thể chất lẫn tinh thần. Hơn nữa, các cháu D và cháu H đều đã trên 7 tuổi và có đơn trình bày nguyện vọng muốn ở với mẹ. Do đó việc chị N1 xin đề nghị tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị N1, anh N1 không yêu cầu đề nghị Toà giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Khánh N phải nộp án phí ly hôn và các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình. Căn cứ Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chị Trần Thị Khánh N được ly hôn với anh Nguyễn Văn L
- Về con chung: Giao chị Trần Thị Khánh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung là Nguyễn Thị Băng D, sinh ngày 24/11/2014 và Nguyễn Tiến H, sinh ngày 15/10/2018. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh L cho đến khi có đề nghị mới hoặc thay đổi theo quy định của pháp luật.
Anh L2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn và không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị Trần Thị Khánh N và anh Nguyễn Văn L đều không yêu cầu Toà giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Khánh N phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đó nộp theo biên lai số 0011653 ngày 14 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Anh Tuấn |
Bản án số 104/2025/HNGĐ-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân & gia đình
- Số bản án: 104/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân & gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân & gia đình
