Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHỈ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HSST

Ngày 18 – 6 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Trần Thị Tuyết Phương;
  • 2/ Bà Trần Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Diễm K – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thanh P; giới tính: Nam; tên gọi khác: không; sinh năm 1995 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: số 124/106/56 (số mới 8) đường X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: không; con ông Lê Văn C và bà Bùi Thị Thảo T; có vợ là Lê Thị Thanh T1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 11/4/2017, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 19/10/2018 thì chấp hành xong.

Tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị Ngọc T2; Địa chỉ: 4 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thanh P (sinh năm 1995) là người sử dụng ma túy, thông qua bạn bè ngoài xã hội, P biết được đối tượng tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0903.031.xxx có bán ma túy nên đã liên hệ để mua ma túy về để bản thân sử dụng.

Khoảng 12 giờ ngày 26/12/2023, Lê Thanh P liên lạc với T3 hỏi mua 500.000 đồng ma túy “đá”. Triều đồng ý bán và hẹn P giao dịch tại hẻm S đường X, Phường B, quận B, P điều khiển xe mô tô hiệu Wave RSX, biển số 59S3-799.02 đến điểm hẹn gặp T3 nhận ma túy và trả tiền mặt cho T3. Sau khi nhận ma túy xong thì P để số ma túy này tại baga xe rồi điều khiển xe đi về. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi P chạy đến trước nhà số F đường X, Phường B, quận B thì bị Công an P1, quận B tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại baga xe của P đang điều khiển có 01 vỏ thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,3190g, P khai nhận là ma túy đá. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ số ma túy trên.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Thanh P đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. P cất giấu ma túy để bản thân sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Kết luận giám định số 479/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể không màu (thu giữ của Lê Thanh P) có khối lượng 0,3190g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

Vật chứng:

  • - 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy còn lại sau khi giám định.
  • - 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, P dùng cất giấu ma túy.
  • - 01 xe mô tô biển số 59S3-799.02, số máy JA52E0514855, số khung RLHJA3851NY206391. Kết luận giám định số 1109/KL-KTHS, ngày 05/02/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H, kết luận: xe trên có số khung, số máy không bị đục lại số.

Kết quả xác minh do bà Lê Thị Ngọc T2 (mẹ vợ của P) đứng tên chủ sở hữu. Bà T2 cho P mượn xe để làm phương tiện đi lại, việc P mượn xe hoạt động phạm tội bà T2 không biết. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho bà T2.

  • - 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh. P dùng liên lạc mua ma túy.

Về trách nhiệm dân sự: không có.

Bản cáo trạng số 120/CTr-VKSBTh ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thanh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”, theo quy định tại điểm c, 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Lê Thanh P đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo Lê Thanh P từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ biên bản phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 26/12/2023, tại trước nhà số F đường X, Phường B, quận B, Công an P1, quận B bắt quả tang Lê Thanh P đang tàng trữ 0,3190g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi nêu trên của Lê Thanh P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Bằng ý thức của mình, bị cáo biết rõ đây là loại biệt dược gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý vì chúng có tính gây nghiện mạnh, hủy hoại sức khỏe và khả năng lao động, làm cho thần kinh của người nghiện bị tổn hại dẫn đến rối loạn hành vi, dẫn tới suy yếu nòi giống, là nguồn gốc và điều kiện phát sinh lan truyền các căn bệnh nguy hiểm, nhất là đại dịch HIV/AIDS. Do đó, Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động tàng trữ trái phép các chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố tình lén lút tàng trữ, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi ấy của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta về chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội đồng thời gián tiếp là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội khác, làm băng hoại đạo đức xã hội, làm ảnh hưởng đến việc phát triển đúng đắn nên Hội đồng xét xử thấy cần có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trên địa bàn.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 03 con nhỏ dại, bị cáo phạm tội lần đầu. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s, khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Lẽ ra Hội đồng xét xử phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nhưng xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không có động cơ vụ lợi nên miễn phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy còn lại sau khi giám định, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, P dùng cất giấu ma túy. Đây là chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép, là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh. P dùng liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

[7] Đối với đối tượng tên T3 đã bán ma túy cho P, đề nghị Cơ quan điều tra Công an quận B tiếp tục truy xét, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Lê Thanh P 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 26/12/2023.

2. Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Kết luận là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1967g, loại Methametamine (mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định) được niêm phong có chữ ký ghi tên của Giám định viên và Cán bộ điều tra. 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet.
  • - Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Realme màu xanh.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)

3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Lê Thanh P phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - VKSND Q. Bình Thạnh;
  • - Công an Q. Bình Thạnh;
  • - CC THA DS Q. Bình Thạnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thanh Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HSST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 104/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger