|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP.HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2024/HS-ST
Ngày 15/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Sáng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bống, bà Phùng Thị Chiển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Liệu– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Bà Cán Thùy Dung- Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 04/2024/TB-TA ngày 06/9/2024, đối với bị cáo:
Kiều Quang M, sinh năm 1999, tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc;
Nơi cư trú: Thôn Thủ Độ, xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc;
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Kiều Quang H, sinh năm 1972 và bà Khuất Thị H1, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 01 Tiền án. Cụ thể:
Ngày 07/02/2023, bị TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 16/2023/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án ngày 18/6/2023.
Nhân thân:
- Ngày 06/11/2018, bị Công an huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ- XPVPHC về hành vi Trộm cắp tài sản, mức phạt: 1.500.000₫ (Chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 07/11/2018).
Ngày 07/3/2022, bị UBND xã Minh Châu, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 83/QĐ- XPHC về hành vi Trộm cắp tài sản, mức phạt 2.500.000 đồng (Chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 08/3/2022).
Bị cáo bị bắt do phạm tội quả tang vào ngày 20/02/2024, trả tự do cùng ngày 20/02/2024. Bắt tạm giam từ ngày 22/6/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo M là ông Kiều Quang H, sinh năm 1972 và bà Khuất Thị H1, sinh năm 1973 - Bố mẹ đẻ (Có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Thủ Độ, xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
* Người bào chữa: Ông Trịnh Sơn Đ – Luật sư Văn phòng Luật sư Sơn Nga – Đoàn Luật sư Tp. Hà Nội (Có mặt).
* Bị hại:
- Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1975 (Có mặt)
Địa chỉ: Số nhà 58, đường Chùa Cao, thôn Đ, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Kiều Ngọc Á, sinh năm 2007(Vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Thủ Độ, xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện hợp pháp của cháu Á là ông Kiều Quang H, sinh năm 1972 và bà Khuất Thị H1, sinh năm 1973 - Bố mẹ đẻ (Có mặt).
Nơi cư trú: Thôn Thủ Độ, xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Viết Đ, sinh năm 1958 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/02/2024, Công an thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì tiếp nhận đơn trình báo của ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1975; trú tại: số nhà 58 đường Chùa Cao, thôn Đ, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội về việc ông đang ngủ thì phát hiện đối tượng là Kiều Quang M, sinh năm 1999, trú tại: thôn Thủ Độ, xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc vào phòng ngủ lục túi quần lấy trộm tiền của ông. Ngay sau đó, ông T đã báo cho cơ quan công an có mặt tại hiện trường, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tang vật thu giữ gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 14 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ: 01 xe đạp điện màu đen, đã qua sử dụng.
Tại cơ quan điều tra, Kiều Quang M khai nhận: do cần tiền tiêu xài nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Khoảng 7h ngày 20/02/2024, M mượn chiếc xe đạp điện, màu đen của em gái là cháu Kiều Ngọc Á, sinh năm 2007, trú tại: Thủ Độ, xã An Tường Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, rồi điều khiển xe đi từ nhà đến khu vực thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội để tìm kiếm gia đình nào sở hở trong quản lý tài sản để lẻn vào trộm cắp. Khi đến khu vực thôn Đ, thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, M phát hiện nhà ông Nguyễn Duy T không đóng cửa. M đi vào bên trong để tìm kiếm tài sản. Khi vào buồng ngủ, M thấy ông T đang nằm ngủ trên giường và có một chiếc quần dài treo trên dây màn. M đã dùng tay phải lục túi quần và phát hiện có tiền bên trong. M lấy toàn bộ số tiền ra, chưa kịp cất tiền thì ông T tỉnh giấc phát hiện, bắt quả tang M có hành vi trộm cắp tài sản. M hoảng sợ nên đã vứt số tiền vừa lấy được xuống nền nhà. Ông T đã báo công an thị trấn Tây Đằng đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra, bà Khuất Thị H1, sinh năm 1973; trú tại: Thủ Độ, An Tường, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc- Là mẹ đẻ của Kiều Quang M xuất trình hồ sơ bệnh án điều trị T thần của M. Vì vậy, ngày 04/3/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Ba Vì đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 582/QĐ- CSĐT trưng cầu Viện pháp y T thần Trung ương giám định T thần đối với Kiều Quang M.
Ngày 04/6/2024, Viện pháp y T thần Trung Ương có Bản kết luận giám định pháp y T thần số 145/KLGĐ kết luận: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 20/02/2024 và tại thời điểm giám định, đối tượng Kiều Quang M bị bệnh Chậm phát triển T thần nhẹ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F70. Tại các thời điểm trên, đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Ngày 13/8/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Ba Vì đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2123/QĐ- CSĐT trả lại số tiền 2.000.000 đồng cho ông Nguyễn Duy T; Trả lại chiếc xe đạp điện, màu đen, đã qua sử dụng cho cháu Kiều Ngọc Á. Sau khi nhận lại tài sản, ông T và cháu Á không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.
Đối với cháu Kiều Ngọc Á - là người đã cho Kiều Quang M mượn chiếc xe đạp điện để làm pH1 tiện đi trộm cắp tài sản ngày 20/02/2024. Tuy nhiên, Á không biết và không tham gia vào việc trộm cắp tài sản của M nên cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý đối với Á.
Tại Bản Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 27/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã truy tố bị cáo Kiều Quang M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Kiều Quang M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn, hối cải. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên toà, phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Kiều Quang M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Kiều Quang M từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024. Bị cáo được trừ 01 ngày đã bị tạm giữ (Ngày 20/02/2024).
- - Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Duy T đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
* Người bào chữa và người đại diện cho bị cáo trình bày lời bào chữa:
- - Về tội danh: Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.
- - Về hình phạt: Đề nghị căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo M được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Ba Vì, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án: Chỉ vì mục đích muốn có tiền tiêu sài cá nhân, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý, trông coi tài sản của bị hại, sáng ngày 20/02/2024, Kiều Quang M đã lén lút trộm cắp số tiền 2.000.000 đồng của ông Nguyễn Duy T. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận, hành vi của Kiều Quang M đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
- - Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính và một lần bị xử phạt tù về hành vi Trộm cắp tài sản, bị cáo không coi đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội trong khi chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có bệnh, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ông nội bị cáo là ông Kiều Quang Đáo được tặng thưởng Huy cH1 kháng chiến, gia đình bị cáo là gia đình thờ cúng liệt sỹ Kiều Quang Tầm, tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên HĐXX cho bị cáo được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 BLHS.
- - Về hình phạt: Bị cáo phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Xét thấy, cần tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- [5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người bị bệnh chậm phát triển T thần nhẹ, không có công ăn việc làm, thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, do vậy HĐXX miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- [6]. Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Duy T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xét.
- [7]. Các vấn đề khác: Đối với cháu Kiều Ngọc Á- Là người đã cho Kiều Quang M mượn chiếc xe đạp điện để làm pH1 tiện đi trộm cắp tài sản ngày 20/02/2024. Tuy nhiên, cháu Á không biết và không tham gia vào việc trộm cắp tài sản của M nên cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý với cháu Á là đúng nên Hội đồng xét xử không xét.
- [8]. Về án phí: Bị cáo Kiều Quang M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Kiều Quang M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Kiều Quang M 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024. Bị cáo được trừ 01 ngày đã bị tạm giữ (Ngày 20/02/2024).
- + Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- + Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Kiều Quang M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Sáng |
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 15/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP.HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – TP.HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giam
