|
TÒA ÁN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2024/HS - ST Ngày: 22/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vương Đình Quang
- 2. Bà Dương Thị Thảo
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà –ông Lê Hoàng Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 59 /TLST - HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78 ngày 1 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nhâm Văn B Giới tính: Nam Tên gọi khác: không năm 1989; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: KhôngNghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ văn hóa: 12/12; Nơi thường trú: Thôn K, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; con ông: Nhâm Văn Hiền con bà: Vũ Thị H ; Gia đình có 07 chị em, bị can là con thứ 7; Vợ: Nguyễn Thị Hải Dương C: Có 01 con, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;
Tạm giữ từ ngày 14/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 01 – Công an thành phố H. Số giam 5816C2/7. Có mặt
Người bị hại: anh Nguyễn Ngọc K Sinh năm: 1998. Nơi thường trú: thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị H1 sinh năm 1979. Nơi thường trú: TDP số 3, khu M, phường M, quận N., Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhâm Văn B và anh Nguyễn Ngọc K cùng là nhân viên tại quán ăn H3 tại số D L, phường M, quận N, Hà Nội. Trong thời gian làm cùng nhau tại quán, B biết anh K có chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i màu đen, BKS: 18D-667.51. Do bản thân nợ nần nhiều nên B đã nảy sinh ý định mượn xe của K đi cầm cố lấy tiền trả nợ. Khoảng 16 giờ ngày 05/4/2023, B trong lúc ăn cơm cùng K tại quán H3 đã chủ động hỏi mượn của K chiếc xe máy Honda SH125i màu đen BKS: 18D-667.51, nói dối là để đi có việc một lúc, K đồng ý. Sau đó, để thuận lợi cho việc cầm cố xe, B đã tự ý đi vào khu vực bếp tại vị trí tủ để đồ của nhân viên, mở túi xách của K để lấy trộm đăng ký xe. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, B điều khiển xe mượn của K đi đến cửa hàng cầm đồ Hoa H2 tại số D ngõ C phố M, phường M, N do chị Nguyễn Thị H1 làm chủ), đặt vấn đề cầm cố xe lấy 50.000.000 đồng. Chị H1 hỏi B giấy tờ xe thì B nói và đưa đăng ký xe, chị H1 kiểm tra thấy đăng ký xe không phải tên B thì B nói dối là xe của B mua lại, muốn cầm cố trong một tháng. Chị H1 sau đó đã đồng ý nhận cầm cố chiếc xe máy này với giá 50.000.000 đồng, lãi suất 2.000đ/1.000.000đ/1 ngày và chuyển cho B số tiền 50.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản đến tài khoản số 9927158343 của B mở tại ngân hàng V và đưa cho B giấy cầm đồ xe. Số tiền cầm cố xe, B dùng để trả nợ hết và sau đó nghỉ việc tại quán. Trưa ngày 06/5/2023, anh K kiểm tra túi xách của mình không thấy giấy đăng ký xe nên đã thông báo với các nhân viên và quản lý trong quán. Anh K sau khi kiểm tra camera trong quán thì phát hiện B là người đã lục túi của K để lấy đăng ký xe. Đến ngày 07/5/2023, B hẹn anh K ra quán nước tại cổng làng M và nói đã mang xe của K đi cầm cố thì K yêu cầu B lấy xe về trả, B xin K cho thời gian đi làm để lấy tiền chuộc xe. Ngày 07/8/2023, B đã đưa cho anh K 01 giấy biên nhận cầm đồ xe của K. Đến ngày 20/9/2023, anh K sau nhiều lần đòi xe nhưng B không trả lại xe như đã hứa nên đã làm đơn trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N.
Ngày 14/12/2023, Nhâm Văn B đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH125i màu đen, BKS: 18D1-667.51 (thu giữ của Nguyễn Thị H1).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 257 ngày 12/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND quận N, kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu đen, BKS: 18D1-667.51, số máy: JF95E0079750, số khung: RLHJF950XMY012812, đăng ký lần đầu ngày 20/4/2021, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản là 65.000.000 đồng.
Đối với Nguyễn Thị H1: Quá trình điều tra xác định khi cầm cố tài sản, chị H1 không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ngày 06/10/2023, cơ quan Công an quận N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Nguyễn Thị H1 về hành vi “nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” theo điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2023 của Chính phủ, phạt tiền 8.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, xác minh xác định xe Honda SH125i màu đen, BKS: 18D1-667.51 đứng tên đăng ký của anh Nguyễn Ngọc K nên ngày 06/2/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả xe cùng giấy chứng nhận đăng ký xe cho anh Nguyễn Ngọc K. Anh K không có yêu cầu về bồi thường dân sự.
Về dân sự: Chị Nguyễn Thị H1 yêu cầu bồi thường trả lại 50.000.000 đồng đã vay khi cầm cố chiếc xe máy BKS: 18D1-667.51.
Lời khai nhận tội của Nhâm Văn B phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.
Tại Cáo trạng số 60/CT - VKSNTL ngày 27/3/024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội truy tố bị cáo Nhâm Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hiện bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H1 số tiền 50.000.000 đồng.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm phát biểu quan điểm đề nghị áp dụng: điểm c Khoản 2 Điều 174. Điểm b, s khoản 1,2 điều 51, Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nhâm Văn B từ 26 tháng tù đến 32 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về dân sự: Người bị hại Nguyễn Ngọc K đã nhận tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H1 đã nhận bồi thường 50.000.000 đồng và không yêu cầu gì về phần bồi thường.
Bị cáo Nhâm Văn B khai tại phiên tòa như đã khai tại cơ quan điều tra về hành vi do mình thực hiện là phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nhâm Văn B khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 05/4/2023, tại quán ăn H3 tại số D L, phường M, N, Hà Nội, Nhâm Văn B do có mục đích chiếm đoạt tài sản nên đã có hành vi gian dối chiếm đoạt của anh Nguyễn Ngọc K chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, BKS: 18D1 - 667.51, trị giá 65.000.000 đồng, sau đó B đã trộm cắp của anh K giấy chứng nhận đăng ký của chiếc xe này rồi đem đi cầm cố cho chị Nguyễn Thị H1 được số tiền 50.000.000 đồng và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Lời khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nhâm Văn B đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 điều 174 Bộ Luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc nhằm đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo: Bị cáo Nhâm Văn B có nhận thức pháp luật nhưng do lòng tham nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là xe máy của người khác để sử dụng cá nhân nên phạm tội. Tuy nhiên, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc phạm tội, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại Nguyễn Ngọc K. Gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả trả tiền cầm cố cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị H1. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt
Xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nhâm Văn B theo quy định tại Khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[5] Về dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Ngọc K đã nhận lại tài sản là xe máy nhãn hiệu Honda SH125i, BKS: 18D1 - 667.51 và không có yêu cầu gì về phần dân sự nên phần bồi thường dân sự đã được giải quyết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1 đã nhận lại số tiền bồi thường 50.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự .
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: bị cáo Nhâm Văn B phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt: bị cáo Nhâm Văn B 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2023.
- Căn cứ vào Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Dân sự: Không
Vật chứng: Không
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vẫn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Thị Khanh |
Bản án số 104/2024/HS - ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 104/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nhâm Văn B phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
