Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 104/2024/HS-PT

Ngày: 04 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Bích Liễu
Ông Trần Anh Khoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 107/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Hà Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hà Văn Đ - Sinh năm 1983, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: Thôn D, xã B, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T (đã chết) và bà Hoàng Thị T1 (sinh năm 1948); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 30/01/2024; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn Đ có quan hệ yêu đương với Cao Thị Thu P. Vào ngày 06/12/2023, Đ đưa P đến phòng ngủ mà Đ ở nhờ do ông Nguyễn Hoài C ở thôn D, xã B, huyện K quản lý. Tại đây được sự đồng ý của P, Đ đã giao cấu với P. Đến khoảng 18 giờ ngày 07/12/2023, bà Cao Thị É là mẹ ruột của P cùng người thân đi tìm và phát hiện P đang ở cùng Đ. Lo sợ bị người nhà bà É đánh nên Đ bỏ chạy, bà É đến Công an xã B trình báo, Công an xã B đã chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 13/12/2023 Hà Văn Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đầu thú và khai nhận: Ngoài hành vi giao cấu với P vào ngày 06/12/2023 thì vào khoảng thời gian từ tháng 11/2023 đến đầu tháng 12/2023 được sự đồng ý của P, Đ đã giao cấu với P khoảng 6 - 7 lần.

Tại Bản kết luận giám định xâm hại tình dục trẻ em số 783/23/KLTDTE-PYKH ngày 12/12/2023 của Trung tâm P1 kết luận: Tình trạng màng trinh: Vị trí 03h,04h,09h,10h rách bờ tự do chưa hết bờ cố định, không chảy máu; Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 không quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trong xâm phạm tình dục nên không xác định tỷ lệ phần trăm.

Ngày 11/01/2024, V có ban hành kết luận giám định ADN số 64/24/KLGDADN-PYQG có nội dung: ADN từ mẫu dịch thu trong âm đạo của Cao Thị Thu P có hiện diện đầy đủ các alen của Hà Văn ĐCao Thị Thu P trên tất cả các Locus STR đã so sánh.

Ngày 18/01/2024, Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh có kết luận giám định số 260/KLGĐĐT-C09B: “Qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 12/2023) Cao Thị Thu P có độ tuổi từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm”.

Tại Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn Đ 03 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 30/01/2024).

Ngoài ra, bản án còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 20/6/2024, bị cáo Hà Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo .

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án Hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Hà Văn Đ còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[3] Xét nội dung kháng cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hà Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ đã được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm thu thập. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn Đ về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến thân thể, danh dự, nhân phẩm của bị hại mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm sinh lý sau này đối với bị hại, ngoài ra còn gây mất an toàn trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là đã tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, quá trình tranh tụng tại cấp phúc thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Các bị cáo không được chấp nhận kháng cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Văn Đ và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  2. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H;

    Xử phạt bị cáo Hà Văn Đ 03 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 30.01.2024.

  3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hà Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-PT ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự phúc thẩm (về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)

  • Số bản án: 104/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hà Văn Đ về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger