Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 30/9/2024

V/v "Ly hôn".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Thiện và bà Võ Thị Ngọc

Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Thị Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Tâm.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 83/2024/TLST- HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXX - ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1982

Nơi cư trú: Thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước

-Bị đơn: ông Trà Quốc C, sinh năm 1978

Nơi cư trú: Thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước

(Nguyên đơn vằng mặt có văn bản xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 02/5/2024 và trong quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trà Quốc C tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước ngày 12/4/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cải vã. Chị và anh C đã sống ly thân từ khoảng giữa năm 2022 đến nay, mạnh ai nấy sống, không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, kinh tế độc lập, ai làm người đó sử dụng. Nay chị thấy không thể tiếp tục chung sống với anh C, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi ly hôn với anh C.

Về con chung: Có 02 con chung, họ tên là: Trà Nguyễn N, sinh ngày 26/9/2011; Trà Quốc T, sinh ngày 15/8/2007.

Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, chị cũng tôn trọng nguyện vọng các con muốn ở với ai thì chị cũng đồng ý.

Từ khi chị và anh C sống ly thân thì chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung Trà Nguyễn N và Trà Quốc T.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Trà Quốc C: Vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tại phiên tòa: Về thủ tục tố tụng: Thực hiện đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị D được ly hôn với anh C. Về con chung: Giao hai con chung Trà Nguyễn N, sinh ngày 26/9/2011; Trà Quốc T, sinh ngày 15/8/2007 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D yêu cầu được ly hôn với anh Trà Quốc C có địa chỉ tại thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Chị D và anh C chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn anh C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thông báo tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng báo và đài trung ương theo quy định pháp luật nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và xét xử. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[2] Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D yêu cầu ly hôn với anh Trà Quốc C:

Xét thấy, chị D và anh C tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước ngày 12/4/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cải vã. Chị D và anh C đã sống ly thân từ khoảng giữa năm 2022 đến nay, mạnh ai nấy sống, không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, kinh tế độc lập ai làm người đó sử dụng, dẫn đến hôn nhân không đạt được mục đích. Như vậy, chị D và anh C đã có sự vi phạm về nghĩa vụ của người vợ, người chồng đối với nhau, cụ thể: không còn sự thương yêu, chung sống hoà hợp với nhau. Đối chiếu với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy hôn nhân giữa chị D và anh C lâm vào tình trạng trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích, nay chị D yêu cầu ly hôn với anh C, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị D và anh C có 02 người con chung, họ tên là: Trà Nguyễn N, sinh ngày 26/9/2011 và Trà Quốc T, sinh ngày 15/8/2007. Chị D có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, chị cũng tôn trọng nguyện vọng các con muốn ở với ai thì chị cũng đồng ý. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “...nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con”; căn cứ theo biên bản lời khai của cháu Trà Quốc T và Trà Nguyễn N thì cháu Thắng và cháu Anh cũng có nguyện vọng được ở với mẹ là chị D. Từ khi chị D và anh C sống ly thân thì chị D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung Trà Nguyễn N và Trà Quốc T. Vì vậy, cần giao cháu Anh và cháu Thắng cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về tài sản và nợ: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[6] Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Căn cứ khoản 2 Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “...Trong trường hợp này, lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do đương sự có yêu cầu thông báo chịu.”. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị D có yêu cầu thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nên chị D phải chịu các chị phí này. Chị D đã nộp xong các chi phí này.

[7] Về án phí: Đương sự phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 131 Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D. Chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Trà Quốc C.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31, quyển số 01, ngày 12/4/2007 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước không còn hiệu lực khi Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn của anh chị có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao hai cháu Trà Nguyễn N, sinh ngày 26/9/2011 và Trà Quốc T, sinh ngày 15/8/2007 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4.Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

5.Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009169, ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi Nhận:

  • - TAND tỉnh Bình phước;
  • - VKSND h. Bù Đăng;
  • - CC THADS h. Bù Đăng;
  • - UBND xã (thị trấn);
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)




Trần Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HNGĐ – ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 104/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger