Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 104/2024/DS-PT

Ngày: 02-5-2024

“Tranh chấp quyền sử

dụng đất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Kha

Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Tấn

Bà Nguyễn Thị Nhiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 90/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Phạm Thị K, sinh năm 1946. Có mặt

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1980. Có mặt

Cùng địa chỉ: Số D, tổ F, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

*Bị đơn: Bà Lê Cẩm P1, sinh năm 1958. Có mặt

Lê Cẩm H, sinh năm 1950. Có mặt

Ông Mai Thành X, sinh năm 1954. Vắng, có đơn

Cùng địa chỉ: Tổ F, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hữu H1, sinh năm 1971. Vắng, có đơn.

Địa chỉ: Số A, QL H, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị K

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tại Tòa bà Phạm Thị K trình bày: Trước năm 1979 bà có sang nhượng đất, căn nhà của bà Lê Thị B (Chết) với diện tích ngang là 4,2m chiều dài từ mé Quốc lộ H chạy tới mé sông, việc sang nhượng đất nhà không có giấy tờ, hiện trạng đất giáp ranh hai bên nhà của bà sang nhượng có chừa đường thoát nước chảy xuống sông. Vào năm 1986 bà có xây cất lại căn nhà và ở ổn định cho đến nay.

Nhà bà và nhà bà Lê Cẩm P1 có chừa 04 tấc đường nước và có cây nhãn làm ranh đất. Trước đây nhà bà P1 là nhà lá, đến năm 2006 bà Lê Cẩm P1 tiến hành sửa nhà nhưng bà P1 không dỡ nhà cũ ra mà xây gạch làn phía trong nên nhà bà không biết sự việc. Đến khi bà P1 cất nhà xong, bà P1 dỡ bỏ vách lá bên ngoài thì bà phát hiện nhà bà P1 cất nhà sau chồng qua đất nền nhà sau của bà và làm bít đường thoát nước ở phía sau nhà. Phần đất mà bà chừa là 40cm để làm đường thoát nước bà P1 trồng 01 cây nhãn (trồng cách đây khoảng 50 năm, cây nhãn có từ khi gia đình bà mua đất), 01 cây mít (Không nhớ năm trồng, cây do bà P1 trồng) và có 01 cái miếu (Có từ lâu rồi, không nhớ rõ năm), khi trời mưa lớn thì làm nền nhà sau của bà bị nước tràn vào, trên nóc nhà thì ngập lá cây làm tràn máng xối. Nay bà yêu cầu bà P1 khôi phục lại hiện trạng đường thoát nước ngang là 40cm.

Đối với phần diện tích đất sau hậu, bà chưa có sử dụng nên vào năm 1994, bà có cho ông Lê Hữu H1 mượn diện tích ngang 2m có chiều dài từ nhà sau chạy dọc ra tới mé sông. Ông H1 sử dụng phần đất đó vào mục đích mở rộng thêm căn nhà sàn của gia đình ông H1. Ông H1 mượn thời gian ngắn, khi nào chuyển đi thì ông trả lại phần đất này cho gia đình bà. Khi bà cho mượn không có làm giấy tờ. Năm 1998 ông H1 chuyển đi nơi khác sống, ông H1 không trả lại diện tích đất này cho bà mà giao lại cho bà Lê Cẩm H tiếp tục sinh sống trên diện tích này, bà cũng không qua nói với bà H phần diện tích đất ngang 2m này ông H1 mượn không trả. Nay nhà bà bị dột nước nên có nhu cầu sử dụng diện tích đất để sửa lại mái nhà và bà yêu cầu gia đình bà H trả lại diện tích đất ngang 2m mà bà cho ông H1 mượn lúc trước.

Nay bà yêu cầu bà Lê Cẩm P1 trả lại diện tích là 10,9m², yêu cầu bà Lê Cẩm P1 khôi phục lại hiện trạng đường thoát nước ngang là 40cm; yêu cầu bà Lê Cẩm H ông Mai Thành X trả lại diện diện tích là 0,88m² và diện tích 3,9m² theo kết quả đo đạc và công văn trả lời của Ủy ban nhân dân huyện K và bà thống nhất kết quả định giá của Công ty TNHH MTV A, không yêu cầu định giá lại tài sản.

Theo bản tự khai và các lời khai tại Tòa bị đơn bà Lê Cẩm P1 trình bày: Nguồn gốc đất là do cha bà ở trước năm 1960 và đến năm 1975 cho bà cho lại bà phần đất này, bà ở liên tục từ đó cho đến nay, khi cho không có giấy tờ gì, bà không biết diện tích bao nhiêu nhưng giáp ranh đất phía sau hậu có trồng 01 cây dừa làm ranh giữa hai bên, cây dừa được trồng từ năm 1975 và cây dừa đã chặt (còn gốc nằm dưới đất). Năm 1985 bà K mua phần diện tích đất nhà này của bà Lê Thị B chiều ngang khoảng hai mét mấy và gia đình bà có cho bà K mượn diện tích đất ngang 1,5m từ lộ chạy đến mé sông. Khi cho mượn đất không có làm giấy tờ, việc cho mượn đất là do cha bà đứng ra cho mượn và việc cho mượn đất này trong gia đình bà ai cũng biết.

Nay bà yêu cầu đo ranh đất từ gốc cây dừa làm ranh nếu bà K cất nhà qua gốc cây dừa thì trả lại đất cho gia đình bà. Còn việc bà K khai gia đình bà lấn đất bà K ngang 40cm làm đường thoát nước là không đúng sự thật nên bà không đồng ý trả lại phần diện tích đất này cho bà K và yêu cầu bà Lê Cẩm P1 khôi phục lại hiện trạng đường thoát nước ngang là 40cm thì bà không đồng ý.

Theo bản tự khai và các lời khai tại Tòa bị đơn bà Lê Cẩm H trình bày: Nguồn gốc đất hiện nay gia đình bà đang sử dụng là do của người em ruột tên Lê Hữu H1 để lại cho gia đình bà ở từ năm 1994, từ khi ở đến nay gia đình bà đã sử dụng nhà đất này và sửa chữa nhiều lần. Căn nhà ông H1 ở thì trước đây là vợ chồng ông Trương ở. Khi ông H1 cho gia đình bà ở không có làm giấy tờ gì. Việc bà K khai ông H1 mượn đất của bà K chiều ngang 2m từ sau hậu nhà bà K chạy dài đến mé sông là không có. Vì nguồn gốc đất là của cha mẹ bà để lại cho ông H1 ở và năm 1994 thì gia đình bà về ở phần đất có trồng cây dừa đã chặt (Còn gốc nằm dưới đất) làm ranh đất giữa các bên. Nay bà không đồng ý trả diện tích đất này cho bà K.

Theo bản tự khai và các lời khai tại Tòa bị đơn ông Mai Thành X trình bày: Ông là chồng của bà Lê Cẩm H, ông thống nhất với ý kiến của bà H và ông không bổ sung ý kiến gì thêm. Nay ông cũng đồng ý kiến với bà H là không đồng ý trả diện tích đất này cho bà K

Theo bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu H1 trình bày: Vào năm 1981 vợ chồng bà Nguyễn Thị X1 có hỏi mượn cha ông phần đất phía sau nhà chị ông là bà Lê Cẩm P1, cây dừa là của cha ông trồng năm 1975 giáp ranh với nhà bà Phạm Thị K để cất nhà ở. Đến năm 1993 vợ chồng bà Xuân d đi và trả lại cho cha ông, sau đó cha ông cho lại ông ở, đến năm 1997 ông có mua nhà khác và để lại cho chị ông là bà Lê Cẩm H ở từ đó cho đến nay. Việc bà Phạm Thị K nói ông qua mượn đất là sai sự thật nên ông không đồng ý. Nay ông yêu cầu Tòa án xem xét phần diện tích này vì trước khi ông ở thì đã có gia đình bà X1 đã ở.

*Tại bản án dân sự sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị K về yêu cầu bà Lê Cẩm P1 phải trả lại diện tích đất 10,9m² và yêu cầu bà P1 khôi phục lại hiện trạng đường thoát nước có chiều ngang 40cm; yêu cầu bà Lê Cẩm H ông Mai Thành X trả lại diện diện tích là 0,88m² và diện tích 3,9m², tọa lạc tại: khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Buộc các đương sự giữ nguyên hiện trạng sử dụng và các đương sự được quyền quản lý, sử dụng đất cho đến khi có chủ trưởng, chính sách pháp luật về đất đai trên địa bàn thị trấn K, huyện K xem xét giải quyết.

(Theo Tờ trích đo đại chính số TĐ 220-2021 ngày 08/11/2021 và Công văn số 587 ngày 08/9/2022 của Ủy ban nhân dân huyện K)

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 07/11/2023, nguyên đơn bà Phạm Thị K có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương. Yêu cầu bà Lê Cẩm P1 khôi phục lại hiện trạng ban đầu của đường thoát nước ngang 0,4 m do nhà bà P1 xây dựng trái phép lấn chiếm. Yêu cầu bà Lê Cẩm H trả lại diện tích đất ngang 2m, dài từ sau nhà bà K đến mé sông.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Phạm Thị K giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo.

Các bị đơn không có kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang nêu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị K, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị K về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn ông Mai Thành X và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu H1 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên áp dụng khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[2] Về nội dung kháng cáo của bản án sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Phạm Thị K có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương. Yêu cầu bà Lê Cẩm P1 khôi phục lại hiện trạng ban đầu của đường thoát nước ngang 0,4 m do nhà bà P1 xây dựng trái phép lấn chiếm. Yêu cầu bà Lê Cẩm H trả lại diện tích đất ngang 2m, dài từ sau nhà bà K đến mé sông.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị K là không có cơ sở chấp nhận bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất:Phạm Thị K khai nguồn gốc đất là năm 1979 bà có sang nhượng đất, căn nhà của bà Lê Thị B (Chết) với diện tích ngang là 4,2m chiều dài từ mé Quốc lộ H chạy tới mé sông, việc sang nhượng đất nhà không có giấy tờ, hiện trạng đất giáp ranh hai bên nhà của bà mua có chừa 40cm làm đường thoát nước chảy xuống sông. Vào năm 1986 bà có xây cất lại căn nhà và ở ổn định cho đến nay. Khi mua đất có cây nhãn làm ranh đất và hiện nay cây nhãn vẫn còn, đến năm 2006 bà Lê Cẩm P1 tiến hành sửa nhà sau chồng qua đất của bà và làm bít đường thoát nước ở phía nhà sau, khi trời mưa lớn thì làm nền nhà sau của bà bị nước tràn vào, trên nóc nhà thì ngập lá cây làm tràn máng xối. Đối với phần diện tích đất sau hậu, bà chưa sử dụng nên vào năm 1994, bà có cho ông Lê Hữu H1 mượn diện tích ngang 2m có chiều dài từ nhà sau chạy dài tới mé sông. Nay bà yêu cầu bà P1 trả lại diện tích là 10,9m², yêu cầu bà P1 khôi phục lại hiện trạng đường thoát nước ngang là 40cm và yêu cầu gia đình bà H trả lại diện tích đất ngang 2m mà bà cho ông H1 mượn lúc trước. Lời khai của bà K chỉ là một phía và bà K không có giấy tờ gì chứng minh cho lời khai của mình, các bên tranh chấp không đồng ý với lời khai của bà.

Thứ hai, việc sử dụng đất của các đương sự là chưa có giấy tờ, chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không thể hiện được diện tích, ranh đất sử dụng nên không thể xác định được đất của ai diện tích bao nhiêu để đo đạc xem xét. Lời khai của các đương sự lại không thống nhất với nhau, phía bị đơn không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn. Các bên tranh chấp đã sử dụng ổn định trong thời gian dài, đã xây dựng các công trình kiên cố trên đất nhưng khi xây dựng công trình không xảy ra tranh chấp.

Thứ ba, theo Công văn số 587 ngày 08/9/2022 của Ủy ban nhân dân huyện K (BL 94) thì “Phần đất tranh chấp giữa bà Phạm Thị K với bà Lê Cẩm P1 có diện tích đất 10,9m²; với bà Lê Cẩm H ông Mai Thành X có diện diện tích là 0,88m² và diện tích 3,9m². Tổng diện tích đất tranh chấp thuộc hành lang lộ giới, thủy giới... Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay trên địa bàn huyện K chưa có chủ trương thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất nằm trong hành lang an toàn công trình (Lộ giới, thủy giới). Tuy chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng được quyền quản lý, sử dụng đất”. Phần diện tích đất này thuộc quản lý của Nhà nước, đất nằm trong hành lang an toàn công trình (Lộ giới, thủy giới).

[4] Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị K, buộc các bên đương sự giữ nguyên hiện trạng sử dụng, các đương sự được quyền quản lý, sử dụng đất cho đến khi có chủ trương, chính sách pháp luật về đất đai trên địa bàn thị trấn K, huyện K là có cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với hiện trạng sử dụng đất thực tế hiện nay.

[5] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị K, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

[6] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét đo đạc, định giá bà Phạm Thị K phải nộp số tiền 6.656.549đ (Đã thực hiện xong). Hoàn trả lại số tiền 3.343.451đ cho bà Phạm Thị K theo giấy nộp tiền ngày 08/3/2021, sau khi án có hiệu lực đề nghị bà K liên hệ Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương để nhận lại số tiền này.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Áp dụng Điều 144; Điều 147 Điều 157 và Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Do bà Phạm Thị K là người cao tuổi nên không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị K.
  • - Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 124/2023/DS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
  • - Căn cứ vào Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng: Điều 175, Điều 176 Bộ luật dân sự và Điều 166; Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Tuyên xử:

1 - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị K về yêu cầu bà Lê Cẩm P1 phải trả lại diện tích đất 10,9m² và yêu cầu bà P1 khôi phục lại hiện trạng đường thoát nước có chiều ng 40cm; yêu cầu bà Lê Cẩm H ông Mai Thành X trả lại diện diện tích là 0,88m² và diện tích 3,9m², tọa lạc tại: khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Buộc các đương sự giữ nguyên hiện trạng sử dụng và các đương sự được quyền quản lý, sử dụng đất cho đến khi có chủ trưởng, chính sách pháp luật về đất đai trên địa bàn thị trấn K, huyện K xem xét giải quyết.

(Theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 220-2021 ngày 08/11/2021 và Công văn số 587 ngày 08/9/2022 của Ủy ban nhân dân huyện K)

2 - Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét đo đạc, định giá bà Phạm Thị K phải nộp số tiền 6.656.549đ (Đã thực hiện xong). Hoàn trả lại số tiền dư 3.343.451đ (Ba triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng) cho bà Phạm Thị K theo giấy nộp tiền ngày 08/3/2021, sau khi án có hiệu lực đề nghị bà K liên hệ Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang để nhận lại số tiền này.

3 - Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

Áp dụng: Điều 144; Điều 147 Điều 157 và Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Phạm Thị K là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Kiên Lương;
  • - THA dân sự huyện Kiên Lương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bá Kha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/DS-PT ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 104/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị K-Lê Cẩm P1-T/c quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger