Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập–Tự do–Hạnh phúc

Bản án số: 104/2023/HS-ST

Ngày: 21 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng.

-Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Trước.

2. Ông Võ Thế Khoa.

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hoa –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Ông Dương Vũ Trường Giang– Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 105/ 2023/ TLST- HS ngày 16 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST-HS ngày 23/10/2023, đối với:

-Bị cáo: Nguyễn Quốc T, sinh ngày: 08/4/1996, tại Bến Tre.

Nơi cư trú: Số G, ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1968 và bà Lê Thị N, sinh năm: 1970; Anh chị em ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm: 1990 nhỏ nhất là bị cáo; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Ngày 22/6/2023 bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/7/2023.

- Bị hại:

Anh Phạm Hữu T1, sinh năm: 1986 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Anh Trần Trọng N1, sinh năm 1984 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Số H, S, phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Công ty TNHH T3

Địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo pháp luật là ông Võ Thanh C, sinh năm: 1992 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

3/ Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1990 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Số G, ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc T và Huỳnh Kim T2, sinh năm 2000, nơi cư trú số H, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp là bạn bè quen biết nhau. Ngày 28/3/2023, T rũ T2 thuê xe ô tô đi tỉnh Sóc Trăng chơi thì T2 đồng ý.

Ngày 29/3/2023, Nguyễn Quốc T thuê xe ô tô từ người quen là anh Phạm Hữu T1, sinh năm 1986 nơi cư trú ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long là người có cho thuê xe ô tô tự điều khiển. Thời gian T thuê xe từ chiều ngày 29/3/2023 đến sáng ngày 30/3/2023 phải giao lại xe cho T1. T1 đồng ý cho T thuê xe và hẹn giao xe tại nhà của T1.

T1 liên hệ Trần Trọng N1, sinh năm 1984 nơi cư trú số H, S, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios biển kiểm soát 51H-365.49 (T1 và N1 là bạn bè cùng kinh doanh cho thuê xe ô tô tự điều khiển) để nói thông tin về giá cả, thời gian và người thuê xe cho N1 biết thì N1 đồng ý cho thuê xe và điều khiển xe ô tô đến nhà của T1 để T1 giao xe cho T thuê.

Khoảng 13 giờ ngày 29/3/2023, T nhận xe ô tô tại nhà của T1 và điều khiển xe đi rước Trân. Nhưng trên đường đi thì T bị chủ nợ điện thoại thúc giục T phải trả tiền còn đang nợ. Lúc này, T nảy sinh ý định sẽ đem xe ô tô vừa thuê từ T1 đi cầm lấy tiền trả nợ. T điều khiển xe ô tô đến cơ sở cầm đồ T4. Địa chỉ số C, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang để cầm xe ô tô 51H-365.49 với tổng số tiền là 100.000.000đ. Sau đó, T dùng số tiền cầm được xe đi sang Campuchia đánh bạc và tiêu xài cá nhân hết. T chặn số điện thoại của T1 và lẫn trốn.

Đến khoảng 08 giờ ngày 30/3/2023, T không giao trả lại xe ô tô 51H-365.49 cho T1 theo đúng thời gian của hợp đồng nên T1 nói sự việc cho chủ sở hữu xe biết việc T đã cầm xe và không còn liên hệ hay biết được là T đang ở đâu.

Sau đó, chủ sở hữu xe Trần Trọng N1 biết được sự việc trên nên đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để trình báo về việc Nguyễn Quốc T thuê xe của anh rồi đem xe đi cầm không trả lại xe theo như thỏa thuận của hợp đồng, sau đó bỏ trốn không liên hệ được.

Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 19/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Xe ô tô 04 chỗ, nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 51H-365.49 trị giá 299.965.000đ.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Quốc T đã tác động gia đình khắc phục xong số tiền 20.000.000đ cho bị hại và 100.000.000đ cho người có quyền lợi liên quan là anh Võ Thanh C. Bị hại và người có quyền lợi liên quan cùng xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Cáo trạng số 111/CT-VKS, ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố Nguyễn Quốc T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, quá trình điều tra không có ai ép cung bị cáo.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ giữ quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc T. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục xong cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng: Không.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm về với gia đình chăm sóc mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định:

Vào khoảng 13 giờ ngày 29/3/2023, Nguyễn Quốc T thuê và nhận được xe ô tô thuê từ Phạm Hữu T1 tại nhà của T1 để tự điều khiển xe chở Huỳnh Kim T2 đi chơi. Khi T đang điều khiển xe đi rướt Trân thì bị chủ nợ đòi tiền nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô thuê, nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 51H-365.49 trị giá 299.965.000đ do anh Trần Trọng N1 làm chủ sở hữu. T điều khiển xe đến cơ sở cầm đồ T4 để cầm xe với số tiền là 100.000.000đ, T sử dụng số tiền cầm xe vào việc cá nhân. Sau đó, T cắt liên lạc với anh T1 và lẫn trốn, nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả lại xe vào sáng ngày 30/3/2023 theo đúng thỏa thuận thuê xe giữa T và anh T1.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc T đã phạm vào tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố là đúng người, đúng tội.

[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi có ý trực tiếp. Lợi dụng sự tin tưởng của bị hại, anh T1 đã giao xe cho bị cáo thuê và sẽ trả lại cho bị hại qua ngày hôm sau. Nhưng sau khi nhận xe bị cáo lại đem thế chấp cho cửa hàng cầm đồ của anh C để lấy tiêu xài cá nhân, khi không còn khả năng để chuộc lại xe bị cáo cố tình lẫn trốn. Bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện.

[4]. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động gia đình chuộc lại xe để trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về vật chứng: Không.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự theo quy định của pháp luật.

[9.]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 7 năm 2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về vật chứng: Không.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc T nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND Tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND huyện Long Hồ;(đã ký)
  • -CC THADS huyện Long Hồ;
  • -Công an huyện Long Hồ;
  • -Nhà tạm giữ CA huyện Long Hồ;
  • -Phòng hồ sơ CA tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • - UBND xã Long Thới-Chợ Lách-Bến Tre;
  • -Bị cáo;
  • -Bị hại;
  • -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • -Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Võ Công Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 104/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lạm dụng chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger