TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 944/2023/HC-PT Ngày: 27 - 10 - 2023 V/v Khiếu kiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Ông Cao Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Lê Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 835/2022/TLPT-HC ngày 05 tháng 12 năm 2022 về “Khiếu kiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 104/2022/HC-ST ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5500/2023/QĐPT ngày 09 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Đỗ Thị O, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Số A Ấp V, xã A, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà O: có Luật sư Trần Văn S và Luật sư Phạm Văn V – Đoàn luật sư T1 (có mặt).
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An
(có văn bản xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
- Ông Hồ Hoài V1 - Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T, tỉnh Long An (có mặt)
- Ông Phan Lê M – Quyền Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố T, tỉnh Long An (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân thành phố T: Ông Võ Hồng T – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T (Văn bản ủy quyền ngày 10/8/2022, xin xét xử vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Đỗ Thị O.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, người khởi kiện - Bà Đỗ Thị O trình bày:
Dự án đường V thành phố T, tỉnh Long An đi qua thửa đất của bà Đỗ Thị O. Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 6298/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Đỗ Thị O 01 phần thửa 193, tờ bản đồ số 5, loại đất LUC, diện tích 546m² dự án đường V và cầu bắc qua sông V (Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các đoạn còn lại thuộc địa bàn thành phố T) – Đoạn QL1-ĐT827 (Km9+400 đến Km14+500), xã A, thành phố T.
Ủy ban nhân dân thành phố T đã ban hành Quyết định số 6430/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ cho bà Đỗ Thị O. Theo bản chiết tính giá đền bù là không thực tế và quá thấp so với thị trường, vị trí đất bà O giáp đường K nhưng chỉ tính vị trí giáp kênh, thu hồi đất để thực hiện 02 dự án đường V và quỹ đất để bán đấu giá nhưng lại thu hồi và bồi thường chung là không đúng. Bà O khiếu nại nhưng không được giải quyết. Đến ngày 01/4/2022, bà O nhận được Quyết định số 651/QĐ-UBND ngày 02/3/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất của bà O, hiện bà O vẫn chưa nhận tiền bồi thường.
Do đó, bà O khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 651/QĐ-UBND ngày 02/3/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với bà O.
* Tại văn bản số 1849/UBND-NCTCD ngày 12/5/2022, người bị kiện - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T trình bày:
Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 661/QĐ-UBND ngày 02/3/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất của bà Đỗ Thị O được căn cứ trên cơ sở các quy định pháp luật. Cụ thể là căn cứ và Luật Đất đai, các Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017, Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ; Thông tư 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ T2 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 47/2014/QĐ-UBND ngày 30/9/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh L về việc ban hành quy trình thực hiện thủ tục kiểm đếm nhà, đất và tài sản khác gắn liền với đất để phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Long An. Quyết định số 35/2016/QĐ-UBND ngày 07/7/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh L quy định trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trên địa bàn tỉnh Long An; Kế hoạch số 661/KH-UBND ngày 24/02/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố T tổ chức thực hiện cưỡng chế thu hồi đất đối với 26 hộ dân xã A. Thông báo số 1659/TB-UBND về thời gian cưỡng chế ngày 28/4/2022 và giao ngày 29/4/2022.
Việc bà Đỗ Thị O yêu cầu hủy Quyết định số 651/QĐ-UBND ngày 02/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất của bà O là không có cơ sở xem xét. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà O.
* Tại Văn bản số 3267/QĐ-UBND-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T trình bày:
Ngày 21/9/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh L ban hành Quyết định số 3855/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án đường V thành phố T. Ngày 27/12/2016, Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 6057/QĐ-UBND về việc phê duyệt tiến độ giải phóng mặt bằng dự án. Ngày 30/8/2017, Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Thông báo số 212/TB-UBND về chủ trương thu hồi đất và triển khai kiểm đếm đất đai tài sản trên đất để bồi thường giải phóng mặt bằng dự án thành phần 2: Đoạn QL1 đến ĐT.827A địa điểm: Phường T, A và phường G, thành phố T.
Ngày 13/9/2017, Hội đồng bồi thường, tái định cư thành phố triển khai chủ trương thu hồi đất và kiểm đếm tài sản trên đất để bồi thường giải phóng mặt bằng, thông báo thu hồi đất dự án thành phần 2, tại xã A. Hội đồng có lập danh sách các hộ tham dự đồng thời niêm yết thông báo thu hồi đất từng hộ.
Ngày 13/9/2017, Hội đồng bồi thường có triển khai chủ trương thu hồi đất và có kiểm đếm đất đai tài sản trên đất của bà O. Ngày 29/9/2017, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố T lập biên bản đo đạc, kiểm đếm hiện trạng tài sản trên đất đối với bà O.
Ngày 26/01/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh L ban hành Quyết định số 362/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án đầu tư đường V và cầu bắc qua sông V. Theo đó, quy mô nền đường rộng 33m. Quy mô phân khu chức năng rộng 20m x 2 bên. Tổng cộng phạm vi cắm cọc giải phóng mặt bằng phần phân khu chức năng và phần nền đường là 73m.
Ngày 27/4/2018, Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư công bố niêm yết, lấy ý kiến dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phần 2: Đoạn QL1 đến ĐT.827A, địa điểm xã A.
Ngày 25/5/2018, Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư đối thoại, vận động các hộ dân có ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Ngày 29/5/2018, lập biên bản kết thúc niêm yết dự thảo. Ngày 13/6/2018, Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư xây dựng phương án 1398/PABTHĐBT và được Ủy ban nhân dân thành phố T phê duyệt tại Quyết định 1866/QĐ-UBND ngày 25/6/2018.
Ngày 28/6/2018, Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư công bố quyết định phê duyệt phương án, quyết định thu hồi đất từng hộ, quyết định bồi thường giá trị từng hộ, địa điểm xã A. Theo đó, Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 6298/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Đỗ Thị O 01 phần thửa 193, tờ bản đồ số 5, loại đất LUC, diện tích 546m² dự án đường V và Quyết định số 6430/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ cho bà Đỗ Thị O. Ngày 21/9/2018, Hội đồng bồi thường mời các hộ dân đến để trao đổi, giải thích, vận động và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đến các hộ dân. Bà O được ghi nhận ý kiến trình bày.
Ngày 23/10/2018, Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Thông báo số 827/TB-UBND về chủ trương triển khai kiểm đếm đất đai tài sản trên đất để giải phóng mặt bằng đoạn nút giao thông đường P-phường T; nút giao thông Châu Thị K – xã A.
Ngày 16/11/2018, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố T tiến hành công bố niêm yết dự thảo phương án bồi thường bổ sung đợt 1 đoạn từ QL1-ĐT.827A (Km9+400 đến Km14+500). Ngày 07/12/2018, Hội đồng bồi thường lập phương án số 3200/PABT-HĐBT và được Ủy ban nhân dân thành phố T phê duyệt tại Quyết định số 6241/QĐ-UBND ngày 18/12/2018.
Ngày 17/01/2019, Hội đồng bồi thường công bố phương án bồi thường (bổ sung đợt 1) và phát bảng chiết tính, quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường dự án. Ngày 31/7/2019, Ủy ban nhân dân thành phố T có tổ chức cuộc họp đối thoại với các hộ chưa thống nhất.
Ngày 31/7/2019, Ủy ban nhân dân thành phố T phối hợp với các ban ngành đoàn thể và Ủy ban nhân dân xã A tổ chức đối thoại, vận động và ngày 24/3/2022, đoàn tiếp tục vận động nhưng bà O không đồng ý giao đất.
Do bà O không chấp hành quyết định thu hồi đất nên Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quyết định số 651/QĐ-UBND ngày 02/3/2022 về việc cưỡng chế thu hồi đất của bà O.
Ngày 24/3/2022, Ủy ban nhân dân thành phố và Ban cưỡng chế tiếp tục vận động nhưng bà O không có ý kiến. Ngày 28/4/2022, Ủy ban nhân dân thành phố B Thông báo số 1659/TB-UBND về thời gian cưỡng chế và giao thông báo ngày 29/4/2022.
Ngày 06/5/2022, đoàn vận động bà O giao mặt bằng, bà O chỉ đồng ý giao mặt bằng trong phạm vi 33m, không đồng ý giao mặt bằng trong phạm vi 20m x 2 bên và không nhận tiền.
Hiện nay, Ủy ban nhân dân thành phố T đã tiến hành cưỡng chế xong đất đối với bà O.
Ủy ban nhân dân thành phố T xác định chủ trương thu hồi đất: Phần mở rộng 20m x 2 bên dọc tuyến đường V, thành phố T không dùng vào mục đích phân lô bán nền mà tạo quỹ đất sạch để triển khai xây dựng các phân khu chức năng theo quy hoạch được duyệt; cụ thể phần 20m x 2 bên này sẽ trở thành đất công do Nhà nước quản lý và nhà nước sẽ công bố đấu giá công khai gắn với thực hiện đầu tư các phân khu chức năng nhằm tạo nguồn đầu tư đường Vành đai phạm vi 33m.
* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 104/2022/HC-ST ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, quyết định:
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị O về việc yêu cầu hủy Quyết định số 651/QĐ-UBND ngày 02/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với bà Đỗ Thị O.
2. Các quyết định hành chính liên quan gồm: Quyết định số 6298/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Đỗ Thị O 01 phần thửa 193, tờ bản đồ số 5, loại đất LUC, diện tích 546m² và Quyết định số 6430/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ cho bà Đỗ Thị O ban hành là đúng quy định pháp luật.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 19/9/2022, bà Đỗ Thị O có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết:
- Đồng ý giao phần đất trong phạm vi làm đường vành đai 33m, nhưng phải thực hiện việc kiểm đếm lại, xác định ranh giới cụ thể và phải bồi thường theo giá thị trường;
- Không đồng ý giao 20m tiếp theo ngoài phạm vi vành đai;
- Đề nghị hủy các quyết định hành chính đã khởi kiện.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Các Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện cho rằng Tòa sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng như: Thủ tục ủy quyền của người bị kiện không đúng, việc cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện không đủ điều kiện, đưa thiếu những người tham gia tố tụng: Ủy ban nhân dân tỉnh L, Trung tâm phát triển quỹ đất, Ban quản lý bồi thường, Chồng của bà O; Việc tiếp cận, công khai chứng cứ không đúng quy định. Về nội dung: Quyết định thu hồi đất chưa thể hiện diện tích, vị trí phần đất bị thu hồi; việc gộp 02 dự án đường vành đai và phần mở rộng 20m hai bên thành một là không đúng. Từ đó, các Luật sư đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện trình bày: Dự án đường vành đai đã được Ủy ban nhân dân thành phố T thực hiện đúng quy định của pháp luật đất đai về thu hồi đất, việc kiểm đếm, áp giá bồi thường cho hộ bà O là đúng giá đất theo thị trường đã được Công ty T3 thẩm định. Về quy trình phê duyệt giá đất được thông qua quy trình chặt chẽ của các cơ quan chuyên môn và được Ủy ban nhân dân tỉnh L phê duyệt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bà O và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính. Về nội dung thấy rằng Ủy ban nhân dân thành phố T đã tiến hành thu hồi đất, bồi thường cho hộ bà O đúng quy định pháp luật. Đề nghị bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe quan điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, những người được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 157 và Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo quy định.
[2]. Xét kháng cáo của người khởi kiện bà Đỗ Thị O:
[2.1]. Xét về tính hợp pháp của Quyết định bị khởi kiện số 651/QĐ-UBND ngày 02/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với bà Đỗ Thị O và các quyết định hành chính liên quan: Quyết định số 6298/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 và Quyết định số 6430/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ cho bà Đỗ Thị O.
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành: đúng với quy định pháp luật. Đồng thời đều là đối tượng khởi kiện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 3, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.
[2.2]. Về tính có căn cứ của quyết định hành chính bị khởi kiện, thấy rằng:
Dự án đường Vành đai và cầu bắc qua sông V thực hiện theo chủ trương của Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh L phê duyệt. Trong quá trình thực hiện dự án có điều chỉnh bổ sung việc thu hồi từ 33m làm đường Vành đai và thu hồi thêm 20m x 2 bên đường V để làm các phân khu chức năng đã được phê duyệt. Việc điều chỉnh này đã được Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh L thông qua (Nghị quyết số 215/NQ-HĐND ngày 18/11/2015, Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 24/4/2018, Nghị quyết số 46/NQ-HĐND ngày 26/10/2018 và Nghị quyết số 19/NQ-HĐND ngày 23/5/2019) và được Ủy ban nhân dân tỉnh L ra quyết định phê duyệt dự án tại Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 21/9/2016 và quyết định số 362/QĐ-UBND ngày 26/01/2018.
Do đó, việc người khởi kiện bà O kháng cáo: chỉ đồng ý việc thu hồi 33m làm đường, không đồng ý thu hồi thêm 20m là không phù hợp với chủ trương của địa phương về việc thu hồi đất nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội theo Điều 62 Luật Đất đai.
Vì vậy, phía người bị kiện ban hành Quyết định cưỡng chế thu hồi đất của bà O là cần thiết và đúng quy định tại Điều 69 và Điều 71 Luật Đất đai.
[2.3]. Về áp giá bồi thường, thấy rằng:
Về giá đất bồi thường đã được trưng cầu đơn vị tư vấn giá độc lập là Công ty T3 khảo sát trên cơ sở giá thị trường tại khu vực thu hồi đất và được Ủy ban nhân dân tỉnh L phê duyệt tại Quyết định số 1001/QĐ-UBND ngày 30/3/2018 và Quyết định 1943/QĐ-UBND ngày 12/6/2018 (giá đất quy định trên địa bàn x hệ số điều chỉnh). Do đó, Ủy ban nhân dân thành phố T phê duyệt tại phương án 1398/PA-HĐBT ngày 13/6/2018 để áp dụng là có căn cứ. Bà O kháng cáo cho rằng mức giá bồi thường thấp, không khảo sát giá đất thực tế nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận.
[2.4]. Các khiếu nại khác:
- Đối với nội dung cho rằng khi thu hồi đất phía bị kiện không tiến hành kiểm đếm, đo đạc. Vấn đề này, cấp phúc thẩm xét thấy: Ngày 24/10/2018 Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố T đã lập biên bản đo đạc, kiểm đếm hiện trạng tài sản gắn liền với đất của hộ bà O và có bản bồi thường chi tiết theo quy định pháp luật (B1: 107; 114-116).
Tại tòa phúc thẩm, bà O thừa nhận có mặt khi Đ đến kiểm đếm nhưng không đồng ý ký tên.
- Ngày 24/4/2019, Hội đồng bồi thường cũng đã có Công văn số 1280 trả lời các khiếu nại của hộ bà O.
[3]. Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy phía người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố T đã thực hiện đúng quy định của pháp luật đất đai về thu hồi đất, kiểm đếm, áp giá bồi thường cho hộ bà O.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp; Quan điểm của các Luật sư đề nghị hủy án là không có căn cứ.
[4]. Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người khởi kiện bà O phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 193, khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Đỗ Thị O. Giữ nguyên quyết định bản án hành chính sơ thẩm số 104/2022/HC-ST ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị O về việc yêu cầu hủy Quyết định số 651/QĐ-UBND ngày 02/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với bà Đỗ Thị O.
- Các quyết định hành chính liên quan gồm: Quyết định số 6298/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 về việc thu hồi đất của bà Đỗ Thị O 01 phần thửa 193, tờ bản đồ số 5, loại đất LUC, diện tích 546m² và Quyết định số 6430/QĐ-UBND ngày 18/12/2018 phê duyệt tiền bồi thường, hỗ trợ cho bà Đỗ Thị O ban hành là đúng quy định pháp luật.
- Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Đỗ Thị O phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001331 ngày 19/9/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An, đương sự đã nộp đủ tiền.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Cao Văn Tám | Nguyễn Văn Hùng | Chung Văn Kết |
Bản án số 944/2023/HC-PT ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất
- Số bản án: 944/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khiếu kiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất
