Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 104/2022/DS-PT.

Ngày: 06/6/2022.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung.

Các thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết, bà Nguyễn Thị Hạnh Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Anh - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 06/6/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 54/2022/TLPT-DS ngày 09/3/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

Do bản án sơ thẩm số 04/2022/DS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 73/2022/QĐPT-DS ngày 21 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Thái Thị Hồng Y. (Có mặt)
  • Địa chỉ: Buôn L, thị trấn P, huyện M, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Bị đơn: Ông Y S Êban và bà H B Ênuôl. (Có mặt)
  • Địa chỉ: Buôn L, thị trấn P, huyện M, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Duy H. (Có mặt)
  • Địa chỉ: Buôn L, thị trấn P, huyện M, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar thì nội dung vụ án như sau:

*Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Thái Thị Hồng Y trình bày:

Năm 2008 ông Nguyễn Duy H là chồng cũ của bà Thái Thị Hồng Y trước đây đã hợp đồng xây dựng cho gia đình ông Y S Êban và bà H B Ênuôl căn nhà xây cấp 4 với tổng giá trị công trình 322.000.000 đồng. Phương thức thanh toán: trả nợ trong 03 năm, nếu sau 03 năm không trả hết thì phải chịu lãi 1,5%/tháng. Sau khi ly hôn giữa ông H và bà Y thỏa thuận bà Y được thu hồi khoản tiền nợ của gia đình ông Y S (A Ma B).

Tính đến năm 2017 gia đình ông Y S mới trả cho bà Y được 262.000.000 đồng, số tiền còn nợ lại 60.000.000 đồng, vợ chồng ông Y S cam kết chịu lãi suất 1,5%/tháng. Đã nhiều lần bà Y yêu cầu vợ chồng ông Y S phải trả khoản tiền trên, tuy nhiên vợ chồng ông Y S không thực hiện. Do đó, bà Y khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Y S phải trả 60.000.000 đồng nợ gốc và lãi suất 1,5%/tháng tính từ tháng 01/2017 đến nay.

* Tại bản tự khai, đơn yên cầu phản tố và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, bị đơn ông Y S Êban, bà H’B Ênuôl trình bày:

Năm 2008 ông Y S và bà H’B hợp đồng với ông Nguyễn Duy H là chồng cũ của bà Thái Thị Hồng Y xây dựng căn nhà cấp 4, mái thái diện tích 120m2 (quy cách theo hợp đồng xây dựng nhà ở dân dụng), tổng giá trị công trình 322.000.000 đồng, phương thức thanh toán: trả trong vòng 03 năm vào các thời điểm tháng 12/2009; tháng 12/2010; tháng 12/2011, quá thời hạn thì phải chịu lãi suất 1,5%/tháng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, vào khoảng tháng 01/2010 căn nhà được làm xong và gia đình ông Y S đã nhận nhà để sử dụng, khi nhận nhà hai bên không lập biên bản nghiệm thu công trình, không tiến hành lập biên bản bàn giao nhà, không tiến hành thanh lý hợp đồng xây dựng nhà ở dân dụng.

Về việc thanh toán hợp đồng: Từ năm 2009 đến năm 2017 vợ chồng ông Y S đã trả cho bà Y số tiền 282.000.000 đồng gốc và 72.500.000 đồng tiền lãi. Tính đến ngày 01/01/2017 vợ chồng ông Y S còn nợ bà Y 60.000.000 đồng, trong đó có 40.000.000 đồng tiền gốc và 20.000.000 đồng tiền lãi.

Về chất lượng công trình: Sau khi nhận bàn giao và trong quá trình sử dụng căn nhà đến năm 2010 căn nhà đã bị lún, nứt nhiều chỗ, những lần bà Y đến lấy tiền, vợ chồng ông Y S đều yêu cầu bà Y sửa chữa nhưng bà Y không thực hiện.

Việc bà Y khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Y S phải trả khoản tiền còn nợ là 60.000.000 đồng và lãi suất 1,5%/tháng từ ngày 01/01/2017 đến nay, ông bà chỉ đồng ý trả tiền gốc với điều kiện bà Y phải sửa chữa lại căn nhà cho gia đình ông bà, gia cố tất cả các chỗ nứt, lún và thấm. Nếu trường hợp bà Y không sửa chữa thì vợ chồng ông Y S không đồng ý trả khoản tiền này mà sẽ dùng số tiền này để tự sửa chữa, gia cố căn nhà.

Tại bản án sơ thẩm số 04/2022/DSST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Căn cứ các Điều 147; Điều 157; Điểm c khoản 1 Điều 217; khoản 1, 2 Điều 218; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 280; Điều 385; Điều 386; Điều 398; Điều 422; khoản 2 Điều 357; khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Thị Hồng Y. Buộc ông Y S Êban và bà H’B Ênuôl có nghĩa vụ trả cho bà Thái Thị Hồng Y số tiền 114.510.000 đồng, trong đó có 60.000.000 đồng nợ gốc và 54.510.000 đồng lãi suất.

Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Y S Êban và bà H’B Ênuôl về việc yêu cầu bà Thái Thị Hồng Y phải sửa chữa, gia cố lại phần bị nứt của căn nhà ông Y S Êban và bà H’B Ênuôl.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Ngày 18/01/2022, Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar tuyên án. Ngày 27/01/2022 bị đơn đã thực hiện quyền kháng cáo và đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Đơn kháng cáo của bị đơn được nộp trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Theo hợp đồng xây dựng nhà ở dân dụng ngày 09/4/2008 được ký giữa ông Y S Êban và bà H’B Ênuôl (bên A) và ông Nguyễn Duy H (bên B), tổng giá trị của hợp đồng là 322.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm hai bên đều xác định tính đến ngày 01/01/2017 thì bên A còn nợ bên B số tiền 60.000.000 đồng.

...

Từ những phân tích, nhận định trên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Y S Êban và bà H’B Ênuôl. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2022/DSST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
  2. Về án phí: Ông Y S Êban và bà H’B Ênuôl mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 600.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar theo biên lai số 60AA/2021/0007956 ngày 07/02/2022.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Đắk Lắk;

- TAND H. Cư M’gar;

- Chi cục THADS H. Cư M’gar;

- Các đương sự;

- Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2022/DS-PT ngày 06/06/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 104/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Y S Êban và bà H’B Ênuôl. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 04/2022/DSST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger