Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN


Bản án số: 104/2021/HS-ST
Ngày: 27-9-2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Bùi Ngọc Quang

2. Ông: Vương Đình Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2021/TLST-HS, ngày 01 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2021/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:

Bị cáo thứ nhất: Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT: Tổ X, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Tổ X, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên; trình độ văn hoá: 7/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Bố đẻ: ông Cà Văn A, sinh năm 1931; Mẹ đẻ: Bà Quàng Thị L; sinh năm 1932; Bố nuôi: Ông Lò Văn O (đã chết); mẹ nuôi: Bà Lò Thị Y, sinh năm 1954. Bị cáo có vợ là chị Tòng Thị M, sinh năm 1985 và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 03/6/2021 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo thứ hai: Họ và tên: Lò Văn N; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT: Tổ X, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Tổ X, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên; trình độ văn hoá: 3/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Bố đẻ: ông Quàng Văn L, sinh năm 1947; Mẹ đẻ: Bà Lò Thị H; sinh năm 1947; Bố nuôi: Ông Lò Văn O (đã chết); mẹ nuôi: Bà Lò Thị Y, sinh năm 1954; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 04/6/2021 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo thứ ba: Họ và tên: Lò Văn H; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh năm 1981; Nơi ĐKHKTT: Bản H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên; trình độ văn hoá: 1/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Bố đẻ: ông Lò Văn Y (đã chết); Mẹ đẻ: Bà Bạc Thị U (đã chết); Bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1982 (đã ly hôn) và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án: 01 tiền án; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/10/2018 Tòa án nhân dân TX. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đến ngày 19/9/2019 chấp hành xong hình phạt tù, đến nay chưa được xóa án tích, chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 04/6/2021 cho đến ngày 29/6/2021 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng Quyết định bảo lĩnh, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo Lò Văn H:Hà Thị T, sinh năm 1986; chức danh: Trợ giúp viên pháp lý. Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lò Văn T, Lò Văn N và Lò Văn H được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 45 phút ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại tổ P thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên, Lò Văn T, Lò Văn N và Lò Văn H đã có hành vi tàng trữ 0,15 gam Heroine, mục đích để sử dụng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/6/2021 Lò Văn H và Lò Văn N rủ nhau góp tiền mỗi người 50.000đ, tổng được 100.000đ để mua ma túy sử dụng. Sau khi góp tiền xong H và N đưa tiền cho Lò Văn T để nhờ T đi mua hộ Heroine về để cả 3 cùng sử dụng thì T đồng ý rồi cầm tiền đi bộ xuống bản C, xã Ẳ, huyện M tìm mua ma túy. Khi đến đoạn đường thuộc bản Cha Nọ, xã Ẳng Tở thì T gặp và hỏi mua được 02 gói Heroine được gói bằng mảnh giấy trắng có dòng kẻ trắng đỏ với giá 100.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái, không quen biết. Sau khi mua được Heroine, T cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc đi về nhà, còn người đàn ông dân tộc Thái đi đâu T không rõ. Đến hồi 18 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đi về đến tổ P, thị trấn M, huyện M thì gặp Tổ Công tác Công an thị trấn Mường Ảng đang làm nhiệm vụ, yêu cầu kiểm tra, T đã tự giác lấy 02 gói Heroine trên người ra giao nộp cho tổ công tác và khai rõ toàn bộ nội dung vụ việc. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong thu giữ số Heroine đối với Lò Văn T và thi hành lệnh bắt khẩn cấp đối với Lò Văn N và Lò Văn H. H và N cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Ngày 05/6/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Lò Văn T, Lò Văn N và Lò Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 20 giờ 35 phút ngày 03/6/2021 thì vật chứng thu giữ của Lò Văn T, Lò Văn N và Lò Văn H là 02 gói nhỏ Heroine được gói bằng mảnh giấy trắng có dòng kẻ trắng đỏ nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 04/6/2021 thì 02 gói nhỏ Heroine được gói bằng mảnh giấy trắng có dòng kẻ trắng đỏ nghi là Heroine có khối lượng là: 0,15gam.

Tại bản kết luận giám định số: 626/GĐ – PC 09, ngày 15/6/2021 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn T, Lò Văn N và Lò Văn H gồm: 0,15 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Không hoàn lại mẫu sau khi giám định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Nội dung vụ án: Hồi 18 giờ 45 phút ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại tổ P thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên, Lò Văn T, Lò Văn N và Lò Văn H đã có hành vi vi tàng trữ 0,15 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai của các bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản niêm phong tài liệu đồ vật và biên bản xác định khối lượng ngày 03/6/2021 và kết luận giám định số: 626/GĐ – PC 09, ngày 15/6/2021 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 03/6/2021. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn N và Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn N và Lò Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lò Văn T 01 (Một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 6 năm 2021.

    Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lò Văn N 01 (Một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 6 năm 2021.

    Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lò Văn H 01(Một) năm 04(Bốn) tháng tù, được khấu trừ thời gian tạm giam là 26 ngày, còn phải chấp hình hình phạt tù là 01 (Một) năm 03 (ba) tháng 04 (Bốn) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo H đi chấp hành hình phạt tù.

  2. Vật chứng: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định.
  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho các bị cáo Lò Văn H. Áp dụng Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo Lò Văn T, Lò Văn N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo H, N, T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Điện Biên
- VKSND tỉnh Điện Biên
- Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên.
- VKSND h.Mường Ảng
- Công an h.Mường Ảng
- Chi cục THADS h.Mường Ảng.
- Người bào chữa;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




(Đã ký và đóng dấu)


Nguyễn Thị Vân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2021/HS-ST ngày 27/09/2021 của Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 104/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn T + Lò Văn N + Lò Văn N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger