|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 104/2021/HNGĐ-ST Ngày 27 – 5 – 2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản và nợ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Càn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hùng.
- Ông Châu Hải Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa: Ông Dương Tấn Viễn – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 542/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2020 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản và nợ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Bích T, sinh năm 1986; cư trú tại: Ấp T1, xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Tạm trú: Ấp T3, xã T4, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Anh Liêu Toàn N, sinh năm 1987; cư trú tại: Ấp T1, xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1965; cư trú tại: Ấp T1, xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bà Tô Mộng Đ, sinh năm 1972; cư trú tại: T1, xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; cư trú tại: Ấp T3, xã T4, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Chị Phạm Kim T1; cư trú tại: Ấp T3, xã T4, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Ông Lê Văn L, sinh năm 1974; cư trú tại: Ấp T1, xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Người đại diện theo ủy quyền của ông L: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1973; cư trú tại: Ấp T1, xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau – văn bản ủy quyền ngày 10/12/2020 (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Ông Lâm Văn M; cư trú tại: Ấp Tân Điền A, xã Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của chị Phạm Bích T, thể hiện:
Về hôn nhân: Chị và anh Liêu Toàn N chung sống với nhau vào năm 2005 nhưng không có đăng ký kết hôn. Khi về chung sống xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đã được gia đình hòa giải hàn gắn nhưng không khắc phục được và không còn sống chung từ tháng 5/2020 cho đến nay. Từ nguyên nhân trên, chị yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung, gồm: Liêu Thành Đ, sinh ngày 09/6/2008 và Liêu Tây Đ1, sinh ngày 24/9/2012 do chị đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi 02 con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Ngày 22/4/2018 âm lịch, chị và anh N cầm cố phần đất của ông Nguyễn Ngọc T và bà Tô Mộng Đ tại ấp T1, xã T2, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (giấy chứng nhận do bà Đ đứng tên, diện tích 18.897m2), thời hạn 05 năm, với giá là 120 chỉ vàng 24k. Theo chị T, khoảng 02 – 03 tháng nay ông Lâm Văn M đã đưa cho anh N số tiền 20.000.000 đồng để anh N giao phần đất lại cho ông T, bà Đ và phần đất do ông T, bà Đ đang quản lý, sử dụng. Khi ly hôn, chị yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố vô hiệu, chị đồng ý giữ nguyên phần đất cho ông T, bà Đ sử dụng, yêu cầu ông T, bà Đ trả lại 120 chỉ vàng 24k để phân chia cho chị và anh N mỗi người 60 chỉ vàng 24k và chị đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà Đ.
Về nợ người khác: Quá trình chung sống chị và anh N có mượn của bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột của chị) 30 chỉ vàng 24k và 15.000.000 đồng, mượn của chị Phạm Kim T1 05 chỉ vàng 24k và nợ tiền hụi của ông Lê Văn L 96.000.000 đồng. Khi ly hôn, chị yêu cầu chị và anh N mỗi người phải có nghĩa vụ trả ½ các khoản nợ nêu trên.
* Theo đơn khởi kiện yêu cầu độc lập và lời trình bày tại phiên tòa của bà Nguyễn Thị H, thể hiện:
Vào tháng 8/2018 âm lịch, anh N, chị T đến hỏi mượn 30 chỉ vàng 24k để trả vàng mượn cố đất của ông T, bà Đ; tiếp đến tháng 10/2018 âm lịch đến hỏi mượn số tiền 15.000.000 đồng một phần để cải tạo vuông và phần trả cho ông Lê Văn L. Vấn đề này, chị T, anh N đã xác nhận số nợ trên vào ngày 23/7/2020. Do chị T, anh N ly hôn nên bà khởi kiện yêu cầu trả lại số vàng và tiền nêu trên.
* Theo đơn khởi kiện yêu cầu độc lập của ông Lê Văn L và lời trình bày tại phiên tòa của bà Huỳnh Thị N, thể hiện:
Anh N, chị T tham gia hụi do ông L làm đầu thảo, cụ thể như sau:
- Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 30/3/2018 âm lịch, gồm 36 phần, loại 5.000.000 đồng/tháng, anh N, chị T tham gia 01 phần, đóng hụi đến ngày 30/9/2019 bỏ và hốt được số tiền 149.500.000 đồng. Sau khi hốt hụi, anh N, chị T không đóng hụi và còn thiếu lại 11 kỳ với số tiền là 55.000.000 đồng (hiện dây hụi này đã mãn).
- Dây hụi thứ hai: Mở ngày 15/6/2018 âm lịch, gồm 45 phần, loại 2.000.000 đồng/tháng, anh N, chị T tham gia 01 phần, đóng hụi đến ngày 15/7/2018 bỏ và hốt được số tiền 63.000.000 đồng. Sau khi hốt hụi, anh N, chị T không đóng hụi và tính đến lúc mãn hụi thì còn thiếu 20 kỳ với số tiền là 40.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà N yêu cầu trả tiền hụi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 11 lần x 2.000.000 đồng = 22.000.000 đồng và 09 lần hụi chưa mãn là 15.300.000 đồng; như vậy, số tiền dây hụi này là 37.300.000 đồng.
- Dây hụi thứ ba: Mở ngày 09/4/2020 âm lịch, gồm 150 phần, loại 20.000 đồng/ngày, anh N, chị T tham gia 05 phần, sau khi đó bỏ hốt 05 phần được số tiền 13.310.000 đồng. Sau khi hốt hụi, anh N, chị T1 không đóng hụi và thiếu lại 83 kỳ với số tiền là 8.300.000 đồng (hiện dây hụi này đã mãn).
Như vậy, số tiền các dây hụi anh N, chị T còn thiếu là 100.600.000 đồng, sau đó gửi trả 7.300.000 đồng, còn lại 93.300.000 đồng nên bà N yêu cầu anh N, chị T trả lại số tiền này.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 16, khoản 2 Điều 53, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013; các điều 122, 123, 131, 207, 219, 463, 466, 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Anh Liêu Toàn N và các đương sự khác đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về việc cầm cố đất: Giao dịch cầm cố đất ngày 22/4/2018 âm lịch giữa anh N, chị T với ông T, bà Đ là vô hiệu do vi phạm quy định pháp luật. Buộc ông T, bà Đ trả lại 120 chỉ vàng 24k cho anh N, chị T.
[5] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh N chung sống từ năm 2005 không đăng ký kết hôn nên không công nhận quan hệ vợ chồng theo Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[6] Về con chung: Giao Liêu Thành Đ và Liêu Tây Đ1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp nguyện vọng và đảm bảo ổn định cuộc sống cho các cháu.
[9] Xét yêu cầu của bà H: Chị T thừa nhận nợ bà H 30 chỉ vàng 24k và 15.000.000 đồng là nợ chung thời kỳ hôn nhân nên chấp nhận yêu cầu của bà H.
[10] Xét yêu cầu của ông L: Chị T thừa nhận nợ hụi ông L, số tiền còn thiếu là 93.300.000 đồng. Đây là nợ chung nên mỗi người có nghĩa vụ trả một nửa.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các quy định pháp luật tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Bích T và anh Liêu Toàn N.
- Về con chung: Giao Liêu Thành Đ, sinh ngày 09/6/2008 và Liêu Tây Đ1, sinh ngày 24/9/2012 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng không đặt ra.
- Về tài sản: Tuyên bố giao dịch cầm cố đất ngày 22/4/2018 âm lịch vô hiệu. Buộc ông Nguyễn Ngọc T và bà Tô Mộng Đ trả lại 120 chỉ vàng 24k để phân chia cho chị T và anh N mỗi người hưởng 60 chỉ vàng 24k. Chị T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà Đ.
- Về nợ người khác:
- Buộc anh N và chị T mỗi người trả cho bà Nguyễn Thị H 15 chỉ vàng 24k và 7.500.000 đồng.
- Buộc anh N và chị T mỗi người trả cho ông Lê Văn L 46.650.000 đồng.
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả một phần tạm ứng án phí cho ông Lê Văn L.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc nhận được bản án.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viển kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Càn |
Bản án số 104/2021/HNGĐ-ST ngày 27/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản và nợ
- Số bản án: 104/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản và nợ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Bích T xin ly hôn với anh Liêu Toàn N
