Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK


Bản án số: 104/2021/DSPT
Ngày 09-7- 2021
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng

Các Thẩm phán: Ông Văn Công Dần và bà Nguyễn Thị Hạnh Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 280/2020/TLPT- DS ngày 20 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2020/DS - ST ngày 30/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện EaH’Leo bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 71/QĐ – PT ngày 25/5/2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lan P; sinh năm 1956; địa chỉ: Buôn CH, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Siu L; sinh năm 1955; địa chỉ: Buôn CH, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

Bị đơn: Bà Nay N; sinh năm 1964; địa chỉ: Buôn CH, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nay B; sinh năm 1989; địa chỉ: Buôn CH, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

Người làm chứng:

  • Ông Cao Văn T; địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn EĐ, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
  • Ông Nay J; địa chỉ: Buôn Đ, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
  • Bà Nay H; địa chỉ: Buôn Đ, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
  • Bà Lê Thị D, địa chỉ: Buôn CH, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

Người phiên dịch: Ông T Bkrông; địa chỉ: Buôn J, xã ET, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Lan P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan P trình bày:

Vào năm 1982, gia đình tôi có mua của ông Cao Văn T (là cán bộ của hạt kiểm lâm xã S) 01 lô đất có diện tích 5.000 m2 với giá 1000 đồng. Đất toạ lạc tại Buôn CH, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, có vị trí tứ cận: Phía Đông giáp tỉnh lộ 15; Phía tây giáp rừng; Phía Nam giáp đất ông Ksơr C; Phía Bắc giáp đường mòn đi vào rẫy.

Hai bên có viết giấy tay bán nhà có xác nhận của UBND xã S, còn trên thực tế không biết có diện tích bao nhiêu. Sau khi mua nhà của ông T, vợ chồng bà P không sinh sống trên mảnh đất này đến năm 1983 gia đình ông L trồng cây Điều trên đất. Năm 1985 ông L có cho ông Đặng Ngọc K người Quảng Trị ở nhờ trên căn nhà đó, trong thời gian ở nhờ ông K đã sửa nhà và được ông L đồng ý, sau đó ông K đã rời khỏi xã S vào thời gian nào và đã bán nhà cho ông Ksơr R khi nào thì gia đình bà P không biết. Năm 1987 gia đình bà P, ông L có gặp ông Ksơr R để hỏi thì ông R nói mua nhà của ông K, vợ chồng bà P ông L vì nghĩ ông Ksơr R không có nhà ở nên đồng ý để ông Ksơr R ở trên ngôi nhà này và có nhờ ông R ở đó thì chăm sóc cây Điều trên đất cho vợ chồng bà P.

Năm 1998 khi thấy ông Ksơr R bán đất cho người khác nên gia đình bà P và ông L có đơn khiếu nại đến UBND xã S, lúc đó bà P và ông L mới biết được đất của gia đình bà P đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ksơr R vào năm 1993. Việc giải quyết khiếu nại của ông L, bà P và ông Ksơr R sau đó được UBND xã S đã chuyển đến Tòa án để giải quyết nhưng không đúng thẩm quyền, Tòa án đã chuyển hồ sơ cho UBND huyện EH giải quyết. UBND huyện không giải quyết hồ sơ khiếu nại của gia đình ông L và bà P. Năm 2002, ông Ksơr R được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tổng diện tích là 7.192 m2. Năm 2009, ông Ksơr R chết, hiện nay bà Nay N đang sử dụng toàn bộ diện tích đất là 7.192 m2, trong đó có 5000 m2 đất ông Ksơr R đã lấn chiếm của vợ chồng bà P.

Vì vậy, bà P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nay N phải trả lại cho vợ chồng bà P diện tích 5.000 m2 đất theo giấy mua bán nhà giữa ông Siu L và ông T. Hủy toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Ksơr R.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với việc hủy toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Ksơr R. Chỉ yêu cầu bà Nay N phải trả lại diện tích 5.000 m2 đất mà ông Ksơr R và bà Nay N đã lấn chiếm của ông L và bà P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Ksơr R thuộc thửa đất số 172, tờ bản đồ số 11, diện tích 7.192 m2 tại Buôn CH, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Bà Nay N và bà Nay B không đồng ý về toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lan P. Bởi vì, toàn bộ diện tích đất mà ông Ksơr R đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do ông Ksơr R khai hoang, làm nhà ở, trồng cây cà phê và sử dụng ổn định trong nhiều năm. Ông Ksơr R đã kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc đất: Năm 1985 ông Ksơr R có mua của ông Đặng Ngọc K một ngôi nhà gỗ tại buôn CH (ngôi nhà được dựng trên mảnh đất mà hiện nay hai bên đang tranh chấp), sau đó ông ông Ksơr R lấy bà Nay N và ở trên ngôi nhà này. Khi đó, trên đất có mấy cây Điều, còn lại là rừng, ông Ksơr R đã khai hoang đất xung quanh ngôi nhà và đến năm 1993 được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 2.630 m2 thuộc thửa đất số 73, tờ bản đồ số 1, tại Buôn CH, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk. Sau đó, ông Ksơr R khai hoang thêm hơn 05 sào nữa và đến năm 2002 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích là 7.192 m2 thuộc thửa đất số 172, tờ bản đồ số 11, diện tích 7.192 m2 tại Buôn CH, xã S, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, bị đơn xác định: Ông Ksơr R và bà Nay N có 08 người con... Việc cấp sơ thẩm không đưa các con bà Nay N và ông K Sơr R vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là thiếu sót, nhưng không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, không làm thay đổi bản chất vụ án. Vì vậy, không cần thiết phải huỷ Bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án. Tuy nhiên, đây là thiếu sót cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[2]. Về nội dung: [2.1]. Về nguồn gốc đất tranh chấp: Ông Siu L, bà Nguyễn Thị Lan P xác định, diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc là do ông Siu L nhận chuyển nhượng từ ông Cao Văn T vào năm 1982... Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận. Cần sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần đơn khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn diện tích đất tranh chấp.

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan P, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2020/DS-ST ngày 30/9/2020 của Toà án nhân dân huyện EaH’Leo, tỉnh Đắk Lắk;

[2] Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 176, khoản 1 Điều 255 và Điều 690 Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 38 và Điều 73 Luật đất đai năm 1993; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp về án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

[2.1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lan P.

[2.2]. Buộc bà Nay N phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Phương Lan và ông Siu L 4.800 m2 đất tại thửa đất 172 tờ bản đồ 11, nay là thửa đất số 07, từ bản đồ số 246, toạ lạc tại buôn CH, xã S, huyện EaH’ Leo, tỉnh Đắk Lắk, có tứ cận:

  • Phía đông giáp tỉnh lộ 15 dài 34m; giáp đất ông P dài 10m
  • Phía tây giáp đất bà Nay N dài 48 m;
  • Phía bắc giáp đường đi dài 89 m,
  • Phía nam giáp đất ông KSơr Tr dài 109 m;

(Đã trừ lộ giới)

Buộc bà Nay N phải tháo dỡ, di dời 01 căn nhà sàn bằng gỗ có diện tích ngang 10,5m x dài 5,3m = 55,6 m2, có mái Hiên (1,5m x 2) x dài 5,3m = 15,9m2, tổng diện tích 71,55m2 và toàn đồ dùng sinh hoạt trong nhà để bàn giao đất cho bà Nguyễn Thị Phương L và ông Siu L.

Buộc bà Nay N phải di dời tài sản trên đất tranh chấp gồm: 01 cây mít đã chết; 01 cây điều đã chết; 14 trụ tiêu vừa có trụ vừa có dây tiêu và trụ không có dây tiêu; 01 nhà vệ sinh tạm bằng tôn; 01 nhà tắm tạm bằng tôn để bàn giao đất cho bà Nguyễn Thị Phương L và ông Siu L.

Bà Nguyễn Thị Lan P và ông Siu L được sử dụng 01 cây mận; 03 cây xoài, 03 cây điều bị đơn trồng trên đất tranh chấp, đồng thời bà Nguyễn Thị Phương L phải thanh toán cho bà Nay N giá trị cây trồng nói trên là 5.705.500 đồng.

Bà Nguyễn Thị Lan P phải thanh toán cho bà Nay N 100.000.000 đồng tiền công sức quản lý đối với diện tích đất tranh chấp.

Nơi nhận:
- TANDCC tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND huyện EaH’Leo;
- Chi cục THADS H.EH;
- Đăng Cổng TTĐT TANDTC;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




(Đã ký)

Trần Thị Phượng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2021/DSPT ngày 09/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 104/2021/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lan P, bị đơn bà Nay N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger