|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1036/2024/HS-PT Ngày: 04 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh
Ông Cao Văn Tám
Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 603/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, do có kháng cáo của các bị cáo Dương Thanh S, Trương Khắc K, Hồ Thanh H, Đinh Thế Thượng N, Lý Châu Gia M và Mai Hoàng D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
* Bị cáo kháng cáo:
- Dương Thanh S; Sinh ngày 02/02/2004, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: không; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Dương Thanh S1, sinh năm 1970; Con bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1974; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai và chưa có vợ, con; Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
-
Trương Khắc K; Sinh ngày 24/5/2003, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Trương Văn Đ, sinh năm 1970; Con bà: Phạm Thị T, sinh năm 1971; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ 3 và chưa có vợ, con; Tiền án:
- Ngày 25/11/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” (bản án số 61/2022/HS-ST).
- Ngày 28/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (bản án số 133/2022/HS-ST).
- Ngày 18/3/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xử phạt 05 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Tổng hợp hình phạt 07 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo bản án số 61/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ và 01 năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo bản án số 133/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của ba bản án là là 02 năm tù, (bản án số 15/2024/HS-ST).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2022 đến nay (có mặt).
- Hồ Thanh H, Sinh ngày 18/7/2002, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Số A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Hồ Thanh T1, sinh năm 1967; Con bà: Đặng Kiều D1, sinh năm 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình và chưa có vợ, con; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/6/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
- Mai Hoàng D, Sinh ngày 04/4/2003, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Mai Ngọc S2, sinh năm: 1975; Con bà: Nguyễn Hoàng Kim O, sinh năm: 1984; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/10/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
-
Đinh Thế Thượng N, Sinh ngày 25/9/2002, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: I, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông: Đinh Thế T2, sinh năm 1979; Con bà: Lê Thị Ú, sinh năm 1981; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con;
Tiền án: Ngày 17/12/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” ((Bản án Phúc thẩm số 302/2021/HSPT);
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
-
Lý Châu Gia M, Sinh ngày 12/12/2002, tại tỉnh Đồng Nai, Nơi cư trú: 2, đường P, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông: Lý Đức D2, sinh năm 1965; Con bà: Châu Thị S3, sinh năm 1964; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
* Người bào chữa cho các bị cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Thanh S: Luật sư Lê Duy Ấ – Luật sư thuộc Đoàn luật sư tình Đ4, địa chỉ: Văn phòng luật sư Đoàn Như V, B N, khu phố B, phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai (có mặt); Luật sư Nguyễn Hoàng Minh T3, Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, địa chỉ: Văn phòng L1, số A tầng A đường số C, Phường C, TP T, TP Hồ Chí Minh (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Thanh H: Luật sư Lê Duy Ấ – Luật sư thuộc Đoàn luật sư tình Đ4, địa chỉ: Văn phòng luật sư Đoàn Như V, B N, khu phố B, phường T, TP B, tỉnh Đồng Nai (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Thế Thượng N: Luật sư Nguyễn Thị H1, Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ4, Địa chỉ: 9 Tổ C, Khu phố C, T, Thành phố B, Đồng Nai (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Trương Khắc K, Lý Châu Gia M, Mai Hoàng D: Luật sư Lê Thị Ánh T4 thuộc đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)
* Bị hại: Anh Phan Lê Thanh S4, sinh năm 2005 (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo: Bà Lê Thị Ngọc D3, sinh năm 1984; Nơi cư trú: H, tổ A, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (xin xét xử vắng mặt).
(Ngoài ra vụ án còn có 10 bị cáo khác, 13 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
-
Hành vi phạm tội “Giết người; Gây rối trật tự công cộng; Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” xảy ra tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai:
Khoảng 20 giờ ngày 25/6/2022, Châu Tuấn K1 và Vi Minh N2 điều khiển xe môtô lưu thông trên đường khu vực vòng xoay Công viên B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì xảy ra mâu thuẫn với Nguyễn Hữu T5, nguyên nhân do xe của K1 và N2 gần va chạm với xe môtô của T6 đang lưu thông cùng chiều. Sau đó, K1 và T5 sử dụng điện thoại di động nhắn tin hẹn nhau vào lúc 01 giờ ngày 27/6/2022 đến đoạn đường trước “Nhà thờ T15” khu vực giáp ranh giữa các phường T và phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn.
Sau khi hẹn nhau, Châu Tuấn K1 đã rủ các đối tượng Dương Thanh S, Trương Khắc K, Nguyễn Văn H2, Vi Minh N2, Lý Châu Gia M, Nguyễn Sỹ Quốc A, Đinh Thế Thượng N, Hồ Thanh H, Trần Đình T7, Võ Thành Đ1, Mai Hoàng D, Trần Nhật Anh P và Nguyễn Hoàng T8 chuẩn bị dao, rựa, kiếm, mã tấu, gậy bóng chày để làm hung khí đi đánh nhau, tất cả đều đồng ý. Lúc này, Trương Khắc K điện thoại nói cho Huỳnh Thế Anh H3 biết về việc bạn của K có mâu thuẫn với nhóm của T5 nên hỏi H3 mượn 02 khẩu súng tự chế để đi đánh nhau với nhóm của T5 và được H3 đồng ý. Sau đó Khắc K đi đến nhà của H3 tại khu dân cư X KP6, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để lấy 01 khẩu súng dài 83cm, báng gỗ, nòng bằng kim loại và 01 khẩu súng dài 50cm, báng gỗ, nòng bằng kim loại và 04 viên đạn hoa cải là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng.
Nhóm của Nguyễn Hữu T5 gồm có Nguyễn Hữu T5, Phan Hoàng K2, Phan Lê Thanh S4, Phan Thanh P1 cùng với Lê Duy T9, Lê Thanh T10, Minh T11 (không rõ nơi cư trú) và một số đối tượng khác không rõ lai lịch. Phan Hoàng K2 chuẩn bị 01 khẩu súng tự chế, loại súng Rulo bắn đạn thể thao (do K2 mua trên mạng xã hội, không xác định được mua của ai) và cùng với Phan Thanh P1 chuẩn bị 06 chai bom xăng bằng thủy tinh; Nguyễn Hữu T5 chuẩn bị các loại hung khí gồm: dao phóng lợn, đao, mã tấu, kiếm, gậy bóng chày cất giấu tại đình “B", phường Q, thành phố B.
Khoảng 00 giờ ngày 27/6/2022, nhóm của Châu Tuấn K1 tập trung tại nhà của K1 số 39/141, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để bàn bạc và phân chia hung khí đi đánh nhau, cụ thể như sau:
- Nguyễn Sỹ Quốc A điều khiển xe môtô hiệu WaveS, màu đỏ xám đen, biển số 60B1-148.30 (của Quốc A mua lại của ông Nguyễn Phi L, không làm thủ tục sang tên, đổi chủ, hiện ông L đã chết) chở Châu Tuấn K1 cầm 01 cây kiếm dài khoảng 01 mét và Lý Châu Gia M cầm 01 cây mã tấu dài khoảng 01 mét;
- Hồ Thanh H điều khiển xe môtô hiệu AirBlade, màu xám, biển số 60F3-802.24 (của H) chở Võ Thành Đ1 đi được khoảng 50 mét thì Đ1 điều khiển xe chở H, không mang theo hung khí gì;
- Nguyễn Văn H2 điều khiển xe môtô hiệu Vario, màu trắng biển số 60F3-565.27 (của T8 mượn của anh C Trần Thành T12, anh T12 không biết T8 sử dụng chiếc xe này để phạm tội) chở Trương Khắc K và Dương Thanh S, mỗi người cầm 01 khẩu súng tự chế có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng;
- Đinh Thế Thượng N điều khiển xe môtô hiệu Wave, màu xanh nhớt, biển số 60K7-5001 (của N) chở Trần Đình T7 cầm 01 cây dao rựa dài 01 mét;
- Trần Nhật Anh P điều khiển xe môtô hiệu Wave, màu đỏ biển số 60X7-9716 (của P mua không sang tên, sau đó bán cho người khác không rõ lai lịch) chở Vi Minh N2 cầm 01 dao tự chế dài 50cm;
- Nguyễn Hoàng T8 điều khiển xe môtô hiệu Airblade, màu đen không rõ biển số (của Nguyễn Văn H2 mượn của mẹ là bà Nguyễn Thị Thu H4) chở Mai Hoàng D cầm 01 con dao tự chế dài khoảng 50cm;
Nhóm của Nguyễn Hữu T5 phân chia hung khí, rồi tập trung trên đường H, khu vực trước cổng Trường tiểu học L2, thuộc phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, cụ thể như sau:
- Nguyễn Hữu T5 mang theo 01 dao Thái Lan điều khiển môtô hiệu Wave, màu đen, biển số 59S3-061.02 (của T5) chở Lê Duy T9 (chưa rõ nơi cư trú);
- Phan Thanh P1 điều khiển xe môtô hiệu Vario, màu trắng cam, biển số 60F3-871.93 (xe của K2 mượn của mẹ là bà Huỳnh Thị Minh X) chở Phan Hoàng K2 mang theo 01 khẩu súng Rulo và 06 chai bom xăng;
- Phan Lê Thanh S4 (nạn nhân) điều khiển xe môtô hiệu Wave biển số 60N3-9082 đi một mình, cùng với Lê Thanh T10; Minh T11 và một số đối tượng khác chưa xác định được nhân thân lai lịch cùng tham chuẩn bị đánh nhau với nhómcủa Châu Tuấn K1.
Khi nhóm của Châu Tuấn K1 điều khiển xe môtô mang theo vũ khí và hung khí đến khu vực trước cửa Trường tiểu học L2 thuộc phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì trong nhóm của Châu Tuấn K1 có người hô to “ai cầm súng thì đi trước đi” nghe vậy, Khắc K dùng tay vỗ vào vai của H2 và nói “lên đi, lên đi”. H2 liền điều khiển xe môtô chạy vượt lên nhìn thấy nhóm của Nguyễn Hữu T5 đang cầm hung khí đứng hàng ngang trên đường, Khắc K lập tức lắp đạn vào súng bắn một phát đe dọa nhưng do súng bị kẹt đạn nên không phát nổ. Dương Thanh S cũng lắp đạn vào súng bắn lên trời 01 phát rồi cả nhóm cầm hung khí chạy đến đánh nhóm Nguyễn Hữu T5. Nghe tiếng súng nổ và bị nhóm của K xông vào đánh nên nhóm của T5 lên xe môtô bỏ chạy theo nhiều hướng khác nhau. Nhóm của Châu Tuấn K1 liền dùng xe môtô đuổi theo. Lúc này, Phan Lê Thanh S4 điều khiển xe môtô bỏ chạy trên đường N theo hướng Ngã ba V đi vòng xoay T đến trước số nhà C, đường N thuộc khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Nguyễn Văn H2 điều khiển xe môtô 60F3-565.27 chở Trương Khắc K và Dương Thanh S đuổi kịp. Lúc này, do súng Khắc K3 đang cầm bị kẹt đạn không bắn được, nên nói với Thanh S “bắn nó đi” (Bút lục 447), Dương Thanh S liền đưa nòng súng hướng về phía Phan Lê Thanh S4 rồi kéo cò bắn 01 phát trúng vào hông trái của anh S4 gây rách khe liên sườn, dập rách thùy phổi, rách bao màng tim, rách cơ tim làm anh S4 ngã xuống đường, tử vong.
Sau khi gây án, Nguyễn Văn H2 điều khiển xe môtô chở Trương Khắc K, Dương Thanh S đến khu vực Giáo xứ L thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu 02 khẩu súng tại bụi cây thì gặp Nguyễn Hoàng T8 điều khiển xe môtô hiệu AirBlade của H2 chở Châu Tuấn K1 đi đến đổi lại xe môtô do trước đó Tuấn K1 đã giao xe môtô hiệu Vario của Nguyễn Hoàng T8 cho H2. Sau khi đổi xe môtô, Khắc K đã điện thoại cho Huỳnh Thế A1 Hào đến lấy 02 khẩu súng mà Khắc K và đồng phạm vừa sử dụng để gây án. Sau đó, H3 điều khiển xe ôtô hiệu Honda City, màu trắng, biển số 60A-640.47 (của anh Huỳnh Tấn K4, sinh năm 2001, thường trú tại số F, tổ B, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho H3 mượn, anh K4 không biết bị cáo H3 sử dụng xe ôtô trên để thực hiện hành vi phạm tội) đến gặp Khắc K tại khu vực Giáo xứ L để lấy 02 khẩu súng và 01 viên đạn hoa cải chưa sử dụng rồi điều khiển xe ôtô đến cầu H, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vứt 01 khẩu súng xuống sông Đ còn 01 khẩu súng H3 mang về nhà cất giấu.
Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 27/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã xac định:
- Hiện trường nằm trên mặt đường N, hướng từ ngã ba V đi ngã tư T, phía trước số nhà C thuộc khu phố E, phường T, B, Đồng Nai. Đường rộng 9,4m mặt đường trải nhựa, gồm 03 làn có vạch sơn đen - nét đứt:
- Cách mép đường hướng Nam 4,3m cách góc T của số nhà C, khu phố E, T 10m là vị trí 01 dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu), dạng vũng, trên diện (0,2x0,9)m.
- 01 dấu vết trượt xước, đầu của vết hướng ngã ba V cách góc T của số nhà C, khu phố E, T 08m; đầu còn lại hướng ngã tư T góc Đông Bắc của số nhà C là 8,3m, vết trượt không liên tục trên mặt đường nhựa, dài 8,2m, một đầu rộng 03mm, đầu còn lại rộng 02mm, dấu vết đậm ở hướng ngã ba V và mờ dần về hướng ngã tư T.
-Hiện trường đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tổ chức khám nghiệm hiện trường và di dời phương tiện, đồ vật liên quan đến vụ việc về Cơ quan xử lý.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1366/KL-KTHS ngày 17/8/2022 của Giám định viên Phòng K5 (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận anh Phan Lê Thanh S4 có dấu vết thương tích như sau:
- Dấu hiệu chính: Bên ngoài thấy xây xát da vùng mặt; rách da dưới nếp lằn nách phía sau bên trái, mép vết nham nhở, xung quanh ám khí màu đen, xuyên vào khoang lồng ngực, xây xát da vùng vai; xây xát da vùng chân.
- Giải phẫu thấy rách khe liên sườn, trong khoang lồng ngực có nhiều máu, dập rách thùy phổi, rách bao màng tim, rách cơ tim.
- Kết quả vi thể: Xuất huyết, tụ máu ở mô liên kết xở - cơ dưới vùng tổn thương.
Nguyên nhân tử vong: Vết thương tim - phổi do hỏa khí.
Tại bản Kết luận giám định số 4081/KL-KTHS ngày 26/7/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận (02 khẩu súng và đạn mà nhóm đối tượng Châu Tuấn K1 sử dụng để gây án):
- 02 khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A và A1) là súng chế tạo thủ công một nòng nhẫn. Súng sử dụng để bắn được với loại đạn cỡ 12 gauge (đạn ghém). Hiện tại 02 khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng.
- 01 viên đạn và 03 viên đạn gửi giám định (ký hiệu A2 và A3) là cùng loại đạn tự chế cỡ 12 gauge (đạn ghém). Loại đạn này thuộc N4, không phải vũ khí quân dụng hoặc vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng.
- 02 viên đạn gửi giám định (ký hiệu A4) là đạn cỡ 12 gauge (đạn ghém). Loại đạn này thuộc N4, không phải vũ khí quân dụng hoặc vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng.
- 01 miếng nhựa màu trắng và 37 viên kim loại hình cầu màu đen gửi giám định (ký hiệu A5 và A6) là cốc đệm và các hạt đạn của viên đạn ghém; không đủ cơ sở xác định có phải được bắn ra từ một viên đạn không. Viên đạn chứa cốc đệm và các hạt đạn nêu trên là loại đạn thuộc nhóm vũ khí thể thao, không phải vũ khí quân dụng hoặc vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng. Không đủ cơ sở xác định cốc đệm và các hạt đạn là do khẩu súng nào bắn ra. Loại đạn ghém chứa cốc đệm và các hạt đạn nêu trên sử dụng để bắn với loại súng phù hợp, đạn nổ vào cơ thể có thể gây thương vong.
- Sử dụng 02 khẩu súng gửi giám định (ký hiệu A và A1) bắn với các viên đạn tự chế cỡ 12 gauge và đạn cỡ 12 gauge, đạn nổ vào cơ thể có thể gây thương vong. (Bút lục số 55-56);
Tại Kết luận giám định số 4080/KL-KTHS ngày 26/7/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh xác định (01 khẩu súng và 16 viên đạn của nhóm Nguyễn Hữu T5):
- 01 khẩu súng ổ quay bằng kim loại, màu đen, có ký hiệu ZP-5 gửi là súng chế tạo thủ công dạng ổ quay nòng nhẫn, sử dụng để bắn được với đạn cỡ (5,6x15,6)mm. Hiện tại súng thiếu kim hỏa, không bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên không bắn được đạn nổ nên đã mất tính năng tác dụng của vũ khí.
- Không đủ cơ sở xác định nếu khẩu súng gửi giám định còn bộ phận kim hỏa, có khả năng bắn được đạn nổ không. Nếu sử dụng khẩu súng nêu trên bắn được đạn nổ, thì khẩu súng là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng.
- 16 viên đạn gửi giám định là đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm và không phải đạn quân dụng hoặc có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng. Loại đạn này sử dụng để bắn được cho khẩu súng ổ quay gửi giám định. Sử dụng loại đạn (5,6x15,6)mm bắn với loại súng phù hợp, đạn nổ vào cơ thể người có thể gây thương vong. (Bút lục số 61).
Vật chứng trong vụ án gồm:
- 37 viên bi; 01 vỏ nhựa cứng (thu giữ trong người tử thi Phan Lê Thanh S4 - Bút lục số 49);
- 03 chai thủy tinh (nước ngọt sting), có nhét một mảnh vải bên trong; 01 con dao tự chế, cán dao màu đỏ, dài 60cm; 01con dao tự chế, cán dao dài 20cm, lưỡi dao dài 42cm; 01 cây gậy bằng kim loại, màu đen, dài 70cm; 01 cây gậy bằng kim loại, màu đen, dài 64cm; 01 con dao tự chế, dài 72cm, bằng kim loại, màu trắng bạc; 01 con dao tự chế, dài 68cm, cán bằng gỗ, dài 36cm; 01 con dao tự chế, dài 110cm, lưỡi dao dài 47cm; 01 con dao tự chế dài 50cm; 01 con dao tự chế dài 48cm;
- 01 xe môtô hiệu Wave, màu đen bạc, biển số 59S3-06102; Số máy JA39E0727191, số khung RLHJA3901HY747030 (thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu T5 - Bút lục số 339);
- 01 khẩu súng bằng kim loại, có khắc ký hiệu ZP-5, màu đen; 16 viên đạn chì, đầu đạn màu đen, thân đạn màu vàng; 01 điện thoại di động Iphone 13 màu trắng; 01 xe mô tô hiệu Vario, màu trắng cam, biển số: 60F3-871.93; Số máy KF41E2214748, số khung MH1KF4124MK210636 (thu giữ của Phan Hoàng K2 - Bút lục 346, 362, 1505); Xe biển số: 60F3-871.93 đã giao trả cho bà Huỳnh Thị Mai X1 là chủ sở hữu
- 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu đen; 01 dao tự chế dài 90cm, bằng kim loại (cán dao dài 60cm, lưỡi dao dài 30cm) bản rộng lưỡi dao là 5cm; 01 dao tự chế dài 50cm, cán dao bằng gỗ, màu đỏ; 01 dao tự chế dài 95cm, cán dao bằng gỗ, được quấn dây màu đỏ, lưỡi dao bằng kim loại, bản rộng lưỡi dao 3cm;
- 01 điện thoại của bị cáo Châu Tuấn K1 - Bút lục số 97, 106);
- 01 điện thoại di động Iphone, màu vàng đồng; 01 áo khoác vải, màu đen; 01 khẩu súng có báng súng bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại, chiều dài tổng cộng 50cm; 01 viên đạn bằng kim loại, màu vàng dài 07cm, đường kính 02cm; 01 khẩu súng có báng gỗ, nòng bằng kim loại, dài 83cm, nòng và báng súng tách rời; nòng súng bằng kim loại, tròn đường kính 02cm; trong nòng súng có 01 viên đạn bằng kim loại, đường kính 02cm.02 viên đạn bằng kim loại, màu vàng dài 07cm, dường kính 02cm; 02 viên đạn, một đầu bằng kim loại, màu vàng, một đầu bằng nhựa màu trắng, dài 5,5cm, đường kính 02cm; 01 xe ô tô hiệu Honda City, biển số 60A-640.47 (thu giữ của bị cáo Huỳnh Thế Anh H3 - Bút lục số 191, 193,195); xe ôtô biển số 60A-640.47 đã giao trả cho anh Huỳnh Tấn K4 là chủ sở hữu);
- 01 xe môtô biển số 60K7-5001, hiệu JIULONG; Số máy FMH-01112968, số khung H102YT007468; 01 giấy đăng ký xe môtô số 0020499 mang tên Đinh Thế T2 (thu giữ của bị cáo Đinh Thế Thượng N - Bút lục số 237, 888); đã giao trả cho anh Đinh Thế T2 là chủ sở hữu);
- 01 (một) xe môtô hiệu Honda, hiệu WaveS, màu đỏ xám đen, biển số 60B1-148.30; Số máy JC43E1683054, số khung RLHJC4311BY128548; 01 áo khoác thun dài tay, màu đỏ (thu giữ của bị cáo Nguyễn Sỹ Quốc A - Bút lục số 262);
- 01 áo vải, dài tay màu đen; 01 mũ bảo hiểm, màu xám, hiệu nón sơn (thu giữ của bị cáo Lý Châu Gia M - Bút lục số 284);
- 01 xe môtô mang nhãn hiệu Honda, hiệu Air Blade, màu xanh xám đen, biển số 60F3-802.24; Số máy KF41E0129268, số khung RLHKF4101MZ604123 (thu giữ của bị cáo Hồ Thanh H, Bút lục số 306).
-
Hành vi phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” xảy ra tại thành phố B và huyện V, tỉnh Đồng Nai:
Ngày 15/5/2022, Trương Khắc K đến nhà một người bạn ngoài xã hội tên Chí Đ2 (không rõ họ tên, năm sinh và địa chỉ) tại khu vực ngã tư Q, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai chơi nhìn thấy trong phòng ngủ của Chí Đ2 có 01 khẩu súng tự chế dài 98cm, báng súng bằng gỗ, nòng súng bằng kim loại là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, thuộc danh mục vũ khí quân dụng. Đến ngày 17/5/2022, K nói Chí Đ2 cho mượn khẩu súng trên để đi săn bắn chim thì Chí Đ2 đồng ý đưa cho K khẩu súng và 03 viên đạn, có kích thước khoảng 02cm, đầu bằng chì để K mang về phòng trọ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cất giấu.
Khoảng 11 giờ ngày 24/5/2022, K dùng ứng dụng Messenger trong điện thoại đi động gọi rủ Đàm Quang Thanh B, sinh ngày 16/5/2006, cư trú tại tổ B, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến phòng trọ của K chơi. B đồng ý và điều khiển xe môtô hiệu Honda Click, màu đỏ - đen, biển số 60N7-6599 đến phòng trọ của K. Khoảng 15 giờ 30 phút, cùng ngày K rủ B đi bắn chim thì B đồng ý. K lấy túi đựng dụng cụ câu cá màu đen bên trong có khẩu súng và 03 viên đạn đeo trên vai rồi lên xe môtô của B điều khiển chở K đi đến khu vực chùa T16 thuộc xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Lúc này, K lấy khẩu súng cùng 03 viên đạn cầm trên tay và nói với B chạy xe đến tuyến đường B thuộc ấp Ông H5, xã T, thì K bỏ 01 viên đạn vào súng, nhắm lên ngọn cây ven đường, rồi kéo cò thì có tiếng nổ “tạch”. Kiệt bắn xong, B điều khiển xe môtô chở K đi được 01 đoạn thì K vứt 02 viên đạn còn lại vào bụi cây ven đường rồi đi thêm khoảng 300m nữa thì bị Công an tỉnh Đ phát hiện bắt giữ Trương Khắc K cùng khẩu súng tự chế. Quá trình điều tra, Trương Khắc K đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc ngày 24/5/2022, Công an tỉnh Đ xác định vụ án xảy ra tại khu vườn Dầu dọc theo tuyến đường B thuộc ấp Ông H5, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Bút lục số: 929).
Vật chứng trong vụ án gồm:
- 01 khẩu súng tự chế (không có ký hiệu), kích thước dài 98cm bên trong không có đạn; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, có số Imei: 356713115846113, số thuê bao 0862.567839 (thu giữ của Trương Khắc K - Bút lục số 929, 967);
- 01 xe môtô hiệu Honda, loại xe Click, màu đỏ - đen, biển số 60N7-6599; Số máy JF18E- 0041233, số khung RLHJF1802 7Y341196 (thu giữ của anh Đàng Quang T, đã giao trả chủ sở hữu - Bút lục số 929, 1500);
Đối với 02 viên đạn Trương Khắc K đã vứt vào bụi cây ven đường B thuộc ấp Ông H5, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, ngày 25/5/2022 Công an tỉnh Đ đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được (Bút lục số 933, 934)
Tại Bản kết luận giám định số 3306/KL-KTHS ngày 19/7/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận khẩu súng tự chế, kích thước dài 98cm mà Trương Khắc K sử dụng là vũ khí quân dụng. Sử dụng khẩu súng trên bắn với đạn phù hợp vào cơ thể người có thể gây thương vong (Bút lục số 944)
Tại Công văn số 757/C09B ngày 17/10/2022 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: Khẩu súng gửi giám định nêu trong Kết luận giám định số 3306/KL-KTHS ngày 19/7/2022 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh là súng chế tạo thủ công bắn đạn thể thao cỡ (5,6x15,6)mm có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất (Bút lục số 947)
Tại Công văn số 810/C09B Ngày 03/11/2022 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: Áp dụng Luật số 50/2019/QH14 ngày 25/11/2019, sửa đổi bổ sung một số khoản của Điều 3 Luật số 14/2017/QH14 thì khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng, thuộc danh mục vũ khí quân dụng (Bút lục số 947a)
Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
Đại diện hợp pháp của nạn nhân Phan Lê Thanh S4 là ông Phan Thanh S5 và bà Lê Thị Ngọc D3 yêu cầu các bị cáo trong nhóm của Châu Tuấn K1 phải bồi thường chi phí mai táng 147.000.000đ (Một trăm bốn mươi bảy triệu đồng), bồi thường tổn thất tinh thần 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng). Quá trình điều tra, gia đình các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại cụ thể như sau:
- Ông Trương Văn Đ (cha bị cáo Khắc K) đã bồi thường 30.000.000đồng;
- Ông Dương Thanh S1 (cha bị cáo S4) đã bồi thường 100.000.000đồng;
- Ông Châu Quang T13 (cha bị cáo Tuấn K1) đã bồi thường 30.000.000đồng;
- Bà Nguyễn Thị Đ3 (bà nội của bị cáo N2) đã bồi thường 30.000.000đồng;
- Bà Võ Thị T14 (mẹ của bị cáo P) đã bồi thường 20.000.000đồng;
- Ông Trần Đình A2 (cha của bị cáo T7) đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng;
- Bà Vũ Thị Thùy V1 (mẹ của bị cáo H3) đã bồi thường 50.000.000đồng;
- Bà Đặng Kiều D1 (mẹ của bị cáo H) đã bồi thường 30.000.000đồng;
- Bà Lê Thị Ú (mẹ của bị cáo N) đã bồi thường 10.000.000đồng;
- Gia đình bị cáo T8 đã bồi thường số tiền 10.000.000đồng;
- Gia đình bị cáo A đã bồi thường số tiền 30.000.000đồng;
- Gia đình bị cáo M đã bồi thường số tiền số tiền 30.000.000đồng;
- Gia đình bị cáo D đã bồi thường số tiền 20.000.000đồng
- Gia đình bị cáo H2 đã bồi thường số tiền 10.000.000đồng;
Phía gia đình bị hại đã nhận tổng cộng 420.000.000 đồng; không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo.
Cáo trạng số 27/CT-VKS-P2_24/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo: Châu Tuấn K1, Nguyễn Sỹ Quốc A, Đinh Thế Thượng N, Lý Châu Gia M, Hồ Thanh H, Vi Minh N2, Nguyễn Văn H2, Trần Nhật Anh P, Nguyễn Hoàng T8, Mai Hoàng D và Trần Đình T7 về tội “Giết người”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; Dương Thanh S về tội “Giết người” và tội “Sử dụng, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và điểm c khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự; Trương Khắc K về tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123; Khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự; Huỳnh Thế A1 Hào về tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Hữu T5, Phan Hoàng K2 và Phan Thanh P1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:
Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Sỹ Quốc A, Đinh Thế Thượng N, Lý Châu Gia M, Hồ Thanh H, Vi Minh N2, Mai Hoàng D phạm tội “Giết người”; các bị cáo Dương Thanh S phạm tội “Giết người” và tội “Sử dụng, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”; các các bị cáo Trương Khắc K phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Xử phạt:
- Bị cáo Dương Thanh S: chung thân về tội: Giết người”, 07 (bảy) năm về tội “Sử dụng, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2022.
- Bị cáo Trương Khắc K: 17 (mười bảy) năm tù về tội “Giết người”, từ 7 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 24 (hai mười bốn) năm tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 15/2024/HS-ST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các bản án là 26 (hai mươi sáu) năm tù thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022.
- Bị cáo Vi Minh N2: 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022
- Bị cáo Hồ Thanh H: 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022.
- Bị cáo Nguyễn Sỹ Quốc A: 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022.
- Bị cáo Đinh Thế Thượng N: 11 (mười một) năm tù. Tổng hợp hình phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 302/2021/HSPT ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các bản án là 11 (mười một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022.
- Bị cáo Lý Châu Gia M: 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022.
- Bị cáo Mai Hoàng D: 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Châu Tuấn K1, Nguyễn Văn H2, Huỳnh Thế Anh H3, Trần Nhật Anh P, Nguyễn Hoàng T8, Trần Đình T7, Nguyễn Hữu T5, Phan Hoàng K2, Phan Thanh P1 và xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 30/5/2024, các bị cáo Dương Thanh S, Trương Khắc K, Hồ Thanh H, Mai Hoàng D, Đinh Thế Thượng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 31/5/2024, người đại diện hợp pháp của bị hại bà Lê Thị Ngọc D3 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Dương Thanh S.
- Ngày 05/6/2024, các bị cáo Nguyễn Sỹ Quốc A, Vi Minh N2, Lý Châu Gia M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 10/6/2024, bị cáo Vi Minh N2 có đơn rút kháng cáo.
- Ngày 12/6/2024, bị cáo Nguyễn Sỹ Quốc A có đơn rút kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo có kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo: Lý do xin giảm nhẹ: đều cho rằng mức hình phạt Tòa sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là nặng.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo S cho rằng mức hình phạt tù chung thân đối với bị cáo là quá nặng; Lý do phía bị hại cũng có lỗi; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú; đã khắc phục hậu quả và được phía gia đình bị hại có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Gia đình bị cáo có công với N3; sau khi xét xử sơ thẩm phía gia đình bị cáo tự nguyện hỗ trợ thêm gia đình bị hại số tiền 80 triệu đồng. Do đó, đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo xuống tù có thời hạn.
- Các Luật sư bào chữa cho các bị cáo còn lại đề nghị xem xét vai trò tham gia, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho các bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa sai lầm và làm lại cuộc đời.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đây là vụ án giết người có đồng phạm; Trong vụ án này, chỉ vì phát sinh mâu thuẩn giữa nhóm bị cáo Châu Tuấn K1 và nhóm Nguyễn Hữu T5 trong việc va chạm xe một tô, hai bên hẹn nhau giải bằng bạo lực, hậu quả làm cho anh Phan Lê Thanh S4 tử vong. Tòa sơ thẩm đã cân nhắc xem xét đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để tuyên mức án như Bản án sơ thẩm là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Ngày 10/6/2024 bị cáo Vi Minh N2 có đơn rút kháng cáo và ngày 12/6/2024 bị cáo Nguyễn Sỹ Quốc A có đơn rút kháng cáo. Căn cứ Điều 348 BLTTHS cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của 02 bị cáo N2, A.
[2]. Về nội dung:
Do có mâu thuẫn trong việc va chạm xe môtô lưu thông trên đường khu vực vòng xoay Công viên B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giữa Châu Tuấn K1 và Nguyễn Hữu T5. Sau đó, K1 và T5 nhắn tin di động hẹn nhau vào lúc 01 giờ ngày 27/6/2022 đến đoạn đường trước “Nhà thờ T15” khu vực giáp ranh giữa các phường T và phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn.
Nhóm phía bị cáo K1 gồm: Châu Tuấn K1, Dương Thanh S, Trương Khắc K, Nguyễn Văn H2, Vi Minh N2, Lý Châu Gia M, Nguyễn Sỹ Quốc A, Đinh Thế Thượng N, Hồ Thanh H, Trần Đình T7, Võ Thành Đ1, Mai Hoàng D, Trần Nhật Anh P và Nguyễn Hoàng T8 tập trung tại nhà của K để phân chia súng tự chế và hung khí; còn nhóm Nguyễn Hữu T5 gồm: Nguyễn Hữu T5, Phan Hoàng K2, Phan Thanh P1, Phan Lê Thanh S4, Lê Duy T9, Lê Thanh T10, Minh T11 và một số đối tượng khác (chưa rõ lai lịch, nơi cư trú) mang theo súng tự chế và nhiều loại hung khí, tập trung đứng hàng ngang trên đường trước cổng Trường tiểu học L2.
Lúc này Nguyễn H2 điều khiển xe môtô chở Trương Khắc K và Dương Thanh S chạy vượt lên trước, S dùng súng bắn 01 phát đe dọa rồi cả nhóm cầm hung khí chạy đến đánh nhóm của T5. Khi đến trước số nhà C, đường N, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì S dí nòng súng vào hông trái của Phan Lê Thanh S4 (nhóm của T5) rồi bắn 01 phát làm anh S4 ngã xuống đường, tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1366/KL-KTHS ngày 17/8/2022 của Giám định viên Phòng K5 (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Phan Lê Thanh S4: Vết thương tim - phổi do hỏa khí.
Tại Bản kết luận giám định số 3306/KL-KTHS ngày 19/7/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: khẩu súng tự chế, là vũ khí quân dụng, bắn vào cơ thể người có thể gây thương vong.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm 86/2024/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Sỹ Quốc A, Đinh Thế Thượng N, Lý Châu Gia M, Hồ Thanh H, Vi Minh N2, Mai Hoàng Dphạm tội “Giết người”; các bị cáo Dương Thanh S phạm tội “Giết người” và tội “Sử dụng, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”; các bị cáo Trương Khắc K phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo các Điều 123, Điều 304 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3]. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:
[3.1]. Đối với kháng cáo của bị cáo Dương Thanh S và đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S, thấy rằng:
Trong vụ án này Tòa sơ thẩm xác định vai trò chính, chủ mưu cầm đầu, chuẩn bị hung khí, rủ rê các bị cáo khác tham gia phạm tội là bị cáo Châu Tuấn K1, còn các bị cáo Trương Khắc K, Dương Thanh S và Nguyễn Văn H2 là người thực hiện hành vi phạm tội; tuy nhiên khi quyết định hình phạt lại tuyên mức hình phạt tù Chung thân đối bị cáo Dương Thanh S, 19 năm tù đối với bị cáo Châu Tuấn K1 là không công bằng và không tương xứng với vai trò của các bị cáo trong vụ án, đặc biệt là vai trò chủ mưu, cầm đầu của bị cáo Tuấn K1. Tuy nhiên, bị cáo Tuấn K1 không bị kháng cáo, kháng nghị về hình phạt nên không làm bất lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sẽ xem xét lượng hình lại cho bị cáo S.
Thấy rằng, tuy bị cáo Dương Thanh S là người trực tiếp gây ra cái chết cho bị hại nhưng xét về vai trò của bị cáo, cũng như bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cùng với các bị cáo khác khắc phục hậu quả, được gia đình phía bị hại xin giảm nhẹ; gia đình có công với đất nước; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án tiền sự. Sau khi xét xử sơ thẩm phía gia đình bị cáo tự nguyện hỗ trợ thêm gia đình bị hại số tiền 80 triệu đồng và được phía gia đình bị hại kháng cáo tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S, lý do mức án Tù chung thân đối với S là quá nặng, vì bị cáo còn trẻ (mới qua tuổi 18 được 4 tháng 25 ngày). Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới chưa được xem xét. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo về tội “giết người”. Đối với mức hình phạt 07 năm tù về tội “Sử dụng, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng” là tương xứng.
[3.2]. Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trương Khắc K, Hồ Thanh H, Mai Hoàng D, Đinh Thế Thượng N và Lý Châu Gia M thấy rằng:
Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ; đồng thời, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội và trị an tại địa phương. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong giao thông, mà cả nhóm bị cáo và phía bị hại hẹn nhau giải quyết bằng bạo lực. Điều đó, thể hiện tính côn đồ và xem thường pháp luật. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, nhằm răng đe và phòng ngừa tội phạm.
Án sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét đến vai trò, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, cũng như nhân thân của các bị cáo để xử phạt: Trương Khắc K: 17 (mười bảy) năm tù về tội “Giết người”, từ 7 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”; Mai Hoàng D 11 năm tù; Đinh Thế Thượng N 11 năm tù; Lý Châu Gia M 11 năm tù và Hồ Thanh H 08 năm tù về tội giết người là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương.
Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên mức hình phạt như bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo Tuấn K1, D, N, M và H là phù hợp.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Các bị cáo Trương Khắc K, Hồ Thanh H, Mai Hoàng D, Đinh Thế Thượng N và Lý Châu Gia M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng do kháng cáo không chấp nhận.
- Bị cáo Dương Thanh S không phải chịu.
[5]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt các bị cáo Trương Khắc K, Hồ Thanh H, Mai Hoàng D, Đinh Thế Thượng N và Lý Châu Gia M. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Dương Thanh S và kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về hình phạt bị cáo S.
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Dương Thanh S phạm tội “Giết người” và tội “Sử dụng, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”; bị cáo Trương Khắc K phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; các bị cáo Nguyễn Sỹ Quốc A, Đinh Thế Thượng N, Lý Châu Gia M, Hồ Thanh H, Vi Minh N2, Mai Hoàng D phạm tội “Giết người”; bị cáo Trương Khắc K phạm tội “Giết người” và tội “Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 304; điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, Điều 55, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Dương Thanh S: 20 năm tù về tội “Giết người”, 07 (bảy) năm về tội “Sử dụng, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 27 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2022.
2.2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 304; điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; các Điều 38, Điều 55, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trương Khắc K: 17 (mười bảy) năm tù về tội “Giết người”, từ 7 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ, sử dụng, vận chuyển trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 24 (hai mươi bốn năm tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 15/2024/HS-ST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các bản án là 26 (hai mươi sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022.
2.3. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Thanh H: 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022.
2.4. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với 02 bị cáo D và M.
- Xử phạt: Bị cáo Mai Hoàng D: 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Lý Châu Gia M: 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022.
2.5. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 5 Điều 65; các Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Thế Thượng N: 11 (mười một) năm tù. Tổng hợp hình phạt 03 tháng tù (chuyển giam) của bản án số 302/2021/HSPT ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các bản án là 11 (mười một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2022.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Các bị cáo Trương Khắc K, Hồ Thanh H, Mai Hoàng D, Đinh Thế Thượng N và Lý Châu Gia M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Bị cáo Dương Thanh S không phải chịu án phí.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Minh Thịnh |
Chung Văn Kết |
|
Cao Văn Tám |
Bản án số 1036/2024/HS-PT ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (giết người; tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng)
- Số bản án: 1036/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người; Tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thanh S kháng cáo bán án số 86/2024/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
