Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 1035/2025/DS-ST

Ngày: 20-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Lợi
  2. Ông Phạm Văn Phước

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Bích Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2861/2024/TLST-DS ngày 16/12/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5119/2025/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5518/2025/QĐST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N.

    Địa chỉ trụ sở: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H (Giấy ủy quyền số 1332/NHN。-ĐSG ngày 28/6/2024)

    Địa chỉ liên hệ: Số I, đường Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Phan Quảng S, sinh năm 1983

    Địa chỉ thường trú: 70 đường GS2, khu Đ, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

    Địa chỉ tạm trú: đường F, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 6 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hoàng H - người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/12/2021, Ngân hàng N – chi nhánh Đ1 (gọi tắt là A) ký kết Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 cho ông Phan Quảng S vay theo hạn mức với số tiền là 1.700.000.000 đồng và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022, cụ thể như sau:

  • Tổng mức cấp tín dụng : 1.700.000.000 đồng
  • Phương thức cho vay: Từng lần;
  • Mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán tiền mua nhà ở;
  • Thời hạn cho vay : 16/12/2041.
  • Lãi suất cho vay : 10%/năm tại thời điểm nhận nợ.
  • Phương thức trả gốc : Hàng tháng vào ngày 16 với số tiền 7.000.000 đồng, kỳ cuối trả dứt.
  • Phương thức trả lãi: Hàng tháng vào ngày 16.

Để đảm bảo nghĩa vụ cho Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022, được đảm bảo bằng 01 tài sản gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ D đường số A, Phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 889422 (số vào sổ cấp GCN số CH00653) do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/12/2012 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu, sử dụng ngày 14/01/2022) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Quảng S, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 6280LCP202200057 ngày 17/01/2022, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 000997 quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2022; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, đến kỳ hạn 16/5/2023, ông Phan Quảng S đã không thực hiện theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, toàn bộ khoản nợ vay của ông S đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 16/06/2023.

Vì vậy, Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ như sau:

  • Buộc ông Phan Quảng S phải thanh toán khoản nợ vay tổng cộng là 1.950.637.615 đồng, trong đó nợ gốc: 1.588.000.000đồng, nợ lãi trong hạn: 317.987.271 đồng, nợ lãi quá hạn: 8.990.505 đồng, phí chậm trả: 35.659.839 đồng tính đến ngày 20/6/2025 theo Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022.
  • Tiền lãi tiếp tục được tính trên số dư nợ gốc kể từ ngày 21/6/2025 trở đi theo mức lãi suất được quy định của Hợp đồng tín dụng cho đến khi bị đơn thanh toán hết nợ gốc.
  • Trong trường hợp ông Phan Quảng S không thực hiện hoặc thực hiện không

đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì A đề nghị cho phát mãi tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ D đường số A, Phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 889422 (số vào sổ cấp GCN số CH00653) do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/12/2012 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu, sử dụng ngày 14/01/2022) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Quảng S, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 6280LCP202200057 ngày 17/01/2022, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 000997 quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2022; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;

  • Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại.
  • Bị đơn phải chịu các chi phí phát sinh trong suốt quá trình tố tụng là chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp.
  • Bị đơn ông Phan Quảng S mặc dù đã được tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt cũng như không có ý kiến, bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

  • Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng H vắng mặt tại phiên toà do có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Bị đơn ông Phan Quảng S mặc dù đã được tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, án phí giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng N yêu cầu ông Phan Quảng S phải trả cho Ngân hàng số tiền đã vay theo ký Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 nên đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” căn cứ theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 được các bên ký kết tại thành phố T. Do đó, Ngân hàng N khởi kiện ông Phan Quảng S tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nơi thực hiện hợp đồng là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 36 và điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Theo Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021; Hợp đồng

sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 6280LCP202200057 ngày 17/01/2022, ông Phan Quảng S cung cấp địa chỉ hộ khẩu thường trú 70 đường GS2, khu Đ, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương và địa chỉ H đường số F, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh của Công an phường Đ, tỉnh Bình Dương đã trả lời: “Qua tra cứu dữ liệu thì công dân Phan Quảng S SN 1983 có HKTT tại 70 đường GS2, khu Đ, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Hiện ông Phan Quảng S đã bán căn nhà trên và không còn sinh sống tại địa chỉ trên” và Công an phường L trả lời xác minh: “Đương sự Phan Quảng Sách S1 1983 không thực tế cư trú tại địa chỉ 7 đường F phường L, T, TP Hồ Chí Minh. Từ tháng 12/2022”. Do đó, việc niêm yết công khai không đảm bảo cho ông S nhận được thông tin về việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án. Nên căn cứ Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

Ông Nguyễn Hoàng H – đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa và Bị đơn – ông Phan Quảng S đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Yêu cầu ông Phan Quảng S thanh toán nợ gốc và lãi: Xét mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Phan Quảng S vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ là thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn không đến Tòa và cũng không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến cũng như các chứng cứ phản bác lại yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn. Nên Hội đồng xét xử căn cứ trên các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét và đánh giá.

Về nợ gốc:

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ do nguyên đơn cung cấp gồm: Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022, Phụ lục Hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 16/12/2021; Ủy nhiệm chi ngày 16/12/2021, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ của nguyên đơn thì xác định bị đơn còn nợ số tiền gốc tính đến ngày 20/6/2025 là 1.588.000.000 đồng. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông S phải thanh toán số tiền nợ gốc: 1.588.000.000 đồng.

Về nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, phí chậm trả:

Căn cứ Khoản 7 Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 và Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ theo Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì “Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất”. Và Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập trước ngày 01-01-2017 được xác định tại Điểm b khoản 1 quy định: “Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng

phải phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng” và Đ b khoản 2 quy định: “Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn”.

Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi và phí chậm trả và được quy định trong hợp đồng. Như vậy, lãi suất được A sử dụng để tính lãi và phí chậm trả đối với khoản nợ của ông S là phù hợp với mức lãi suất quy định nên có căn cứ để chấp nhận. Buộc ông S phải trả lãi tính đến ngày 20/6/2025 cho Ngân hàng A nợ lãi trong hạn là 317.987.271 đồng, nợ lãi quá hạn: 8.990.505 đồng, phí chậm trả: 35.659.839 đồng. Tiền lãi tiếp tục tính trên số dư nợ gốc tương ứng, kể từ ngày 21/6/2025 trở đi theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022.

Tổng cộng ông S phải thanh toán cho Ngân hàng A số tiền: 1.950.637.615 đồng, trong đó nợ gốc: 1.588.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 317.987.271 đồng, nợ lãi quá hạn: 8.990.505 đồng, phí chậm trả: 35.659.839 đồng tính đến ngày 20/6/2025 theo Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022.

[5] Xét Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp :

Xét tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm:

  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 6280LCP202200057 ngày 17/01/2022, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 000997 quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2022; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận G, Thành phố Hồ Chí Minh được ký kết giữa bên bên nhận thế chấp là Ngân hàng A và bên thế chấp ông Phan Quảng S. Hợp đồng thế chấp trên đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm hợp lệ, đã tuân thủ đúng với các quy định tại Điều 296, Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định 11/2022/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của chính phủ về giao dịch bảo đảm nên hợp đồng thế chấp trên có giá trị pháp lý.

Do đó yêu cầu của Ngân hàng A đề nghị Tòa án cho phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ D đường số A, Phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 889422 (số vào sổ cấp GCN số CH00653) do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/12/2012 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu, sử dụng ngày 14/01/2022) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Quảng S để thu hồi nợ cho Ngân hàng A trong trường hợp ông Phan Quảng S không trả được nợ là có cơ sở, phù hợp với nội dung thỏa thuận của các hợp đồng thế chấp nêu trên mà các bên đã ký kết và phù hợp với qui định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Sau khi phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng, nếu vẫn còn chưa thanh toán hết gốc và lãi thì bị đơn phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho đến khi tất toán xong nợ.

Ngay sau khi ông Phan Quảng S đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022 cho Ngân hàng thì Ngân hàng N thực hiện thủ tục xóa thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền và hoàn trả lại cho ông Phan Quảng S các loại giấy tờ đã thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 6280LCP202200057 ngày 17/01/2022.

[6] Về chi phí tố tụng:

Xét yêu cầu của A buộc bị đơn phải chịu các chi phí phát sinh trong suốt quá trình tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Xét: Phiếu thu số 65 ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức với nội dung “tạm ứng chi phí tố tụng” mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng.

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên căn cứ khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ông Phan Quảng S phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (mười triệu) đồng.

Xét chi phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng, nguyên đơn đã tạm ứng xong chi phí này. Căn cứ Khoản 2 Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn phải chịu chi phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng.

[7] Về án phí:

Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị đơn phải chịu án phí trên yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về giải quyết nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 36 và điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • Căn cứ các Điều 293, 296, 298, 299, 323, 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng 2010;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định 11/2022/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của chính phủ về giao dịch bảo đảm;
  • Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Căn cứ Luật thi hành án dân sự 2008 và sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

1.1 Buộc ông Phan Quảng S có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N toàn bộ số nợ tính đến ngày 20/6/2025 phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022 là: 1.950.637.615 (một tỷ chín trăm năm mươi triệu sáu trăm ba mươi bảy ngàn sáu trăm mười lăm) đồng, trong đó nợ gốc: 1.588.000.000 (một tỷ năm trăm tám mươi tám triệu) đồng, nợ lãi trong hạn: 317.987.271 (ba trăm mười bảy triệu chín trăm tám mươi bảy ngàn hai trăm bảy mươi mốt) đồng, nợ lãi quá hạn: 8.990.505 (tám triệu chín trăm chín mươi ngàn năm trăm lẻ năm) đồng, phí chậm trả: 35.659.839 (ba mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn tám trăm ba mươi chín) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Phan Quảng S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận được quy định tại Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Thời hạn: thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Trường hợp ông Phan Quảng S không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đủ số nợ trên thì nguyên đơn - Ngân hàng N được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật kể cả việc kê biên, phát mãi các tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ D đường số A, Phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 889422 (số vào sổ cấp GCN số CH00653) do Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/12/2012 (cập nhật thay đổi chủ sở hữu, sử dụng ngày 14/01/2022) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Quảng S, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 6280LCP202200057 ngày 17/01/2022, công chứng tại Văn phòng C số công chứng 000997 quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/01/2022; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 18/01/2022 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Phan Quảng S phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ khoản nợ.

Sau khi phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng, nếu vẫn còn chưa thanh toán hết gốc và lãi thì bị đơn phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ cho đến khi tất toán xong nợ.

Ngay sau khi ông Phan Quảng S đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022 cho Ngân hàng thì Ngân hàng N thực hiện thủ tục xóa thế chấp tại cơ quan có thẩm quyền và hoàn trả lại cho ông Phan Quảng S các loại giấy tờ đã thế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 6280LAV202101324 ngày 16/12/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-202101324-PL01 ngày 17/01/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 6280LCP202200057 ngày 17/01/2022.

1.3. Về chi phí tố tụng:

  • Buộc ông Phan Quảng S phải chịu chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (mười triệu) đồng. Ông Phan Quảng S có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đã nộp 10.000.000 (mười triệu) đồng.
  • Về lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng: Nguyên đơn đã tạm ứng chi phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng. Căn cứ khoản 2 Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn phải chịu lệ phí này.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

  • Ông Phan Quảng S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 70.519.128 (bảy mươi triệu năm trăm mười chín ngàn một trăm hai mươi tám) đồng.
  • Hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 32.492.362 (ba mươi hai triệu bốn trăm chín mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi hai) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0067895 ngày 10/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP.Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thu Phương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1035/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1035/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger