TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1034/2023/DS-PT
Ngày: 31/10/2023
V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: | |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thị Thanh Trúc |
Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Tiến Dũng Bà Nguyễn Thị Thoa |
Thư ký phiên tòa: | Bà Hồ Quỳnh Trâm Thư ký Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh. |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam – Kiểm sát viên. | |
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 389/2023/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 292/2023/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4695/2023/QĐ-PT ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1. Nguyên đơn: Bà Tăng Thị C, sinh năm 1960 (có mặt).
Địa chỉ: A đường T, ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1959 (có mặt).
Địa chỉ: G đường B, ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tăng Thị R, sinh năm 1955 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: A đường T, ấp X, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 30/3/2023 và các ý kiến trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Tăng Thị C trình bày: Từ năm 2020, bà C có 03 lần cho bà Nguyễn Thị N vay tiền với tổng số tiền 600.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, thời hạn vay: từ 04 đến 05 tháng kể từ ngày vay, cụ thể như sau: Ngày 10/5/2020, bà cho bà N vay 300.000.000 đồng; ngày 21/10/2020, bà cho bà N vay 100.000.000 đồng; ngày 08/11/2020, bà cho bà N vay 200.000.000 đồng. Sau khi hết thời hạn vay, bà C đã nhiều lần yêu cầu bà N thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Đến ngày 13/02/2022, bà N trả cho bà số tiền vốn gốc là 100.000.000 đồng. Hiện tại, bà N còn nợ bà số tiền vốn gốc là 500.000.000 đồng. Khoảng đầu năm 2023, bà N bán đất nhưng không trả tiền cho bà. Bà yêu cầu Tòa án buộc bà N trả cho bà số tiền vốn gốc vay còn thiếu là 500.000.000 đồng, trả một lần, không yêu cầu trả tiền lãi.
Tại biên bản hòa giải không thành ngày 20/6/2023, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn gốc vay còn thiếu là 400.000.000 đồng, trả một lần vào cuối tháng 8/2023, không yêu cầu tính lãi.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 31/5/2023 và các ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị N xác nhận có vay của nguyên đơn 03 lần với tổng số tiền 600.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng như nguyên đơn đã trình bày. Sau đó, bị đơn đã trả cho nguyên đơn 200.000.000 đồng tiền vốn gốc, còn thiếu 6.000.000 đồng tiền lãi. Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn trả tiền nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị cho trả dần số tiền 400.000.000 đồng, chậm nhất đến tháng 6/2024 trả dứt điểm nợ, xin không trả tiền lãi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tăng Thị R không có ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn gốc vay còn thiếu là 400.000.000 đồng, trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bị đơn đồng ý trả số tiền 400.000.000 đồng, xin được trả dần, chậm nhất đến tháng 6/2024 trả hết số tiền còn nợ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 292/2023/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị N có trách nhiệm trả cho bà Tăng Thị C số tiền vốn vay là 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng, trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo, kháng nghị, quyền và nghĩa vụ của đương sự trong giai đoạn thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/7/2023, bị đơn nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 292/2023/DS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án nêu trên, cho bị đơn được trả nợ cho nguyên đơn vào tháng 6/2024.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết toàn bộ vụ án: Bị đơn bà Nguyễn Thị N xác nhận còn nợ nguyên đơn bà Tăng Thị C số tiền vốn 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) đã vay năm 2020. Nguyên đơn đồng ý cho bị đơn trả số tiền trên làm 03 lần, không yêu cầu trả lãi suất, cụ thể như sau:
- - Lần 1: Trả 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) vào ngày 31/12/2023.
- - Lần 2: Trả 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) vào ngày 31/3/2024.
- - Lần 3: Trả 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) vào ngày 30/6/2024.
Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Có thông báo bằng văn bản cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp về việc thụ lý vụ án, quyết định xét xử cùng hồ sơ vụ án chuyển Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự đã tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Xét thấy, nội dung thỏa thuận của đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần được ghi nhận, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Đơn kháng cáo của bị đơn thực hiện trong thời hạn luật định nên được cấp phúc thẩm chấp nhận.
- Việc xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tăng Thị R có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Tuy nhiên, bị đơn thuộc diện người cao tuổi, đã nộp đơn xin miễn giảm án phí dân sự sơ thẩm đề ngày 09/6/2023. Căn cứ các Điều 12 và 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Tòa án cấp sơ thẩm miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn là phù hợp nên Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
Các Điều 357, 463, 466, 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Điều 12 và Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sửa toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 292/2023/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nguyên đơn bà Tăng Thị C với bị đơn bà Nguyễn Thị N tại phiên tòa phúc thẩm.
Tuyên xử:
- Bị đơn bà Nguyễn Thị N xác nhận còn nợ nguyên đơn bà Tăng Thị C số tiền vốn đã vay năm 2020 là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).
- Nguyên đơn đồng ý cho bị đơn trả số tiền trên làm 03 lần, không yêu cầu trả lãi suất, cụ thể như sau:
- Lần 1: Trả 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) vào ngày 31/12/2023.
- Lần 2: Trả 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) vào ngày 31/3/2024.
- Lần 3: Trả 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) vào ngày 30/6/2024.
- Kể từ ngày bà C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà N chưa thi hành trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà N còn phải trả cho bà C tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn, bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Trúc |
Bản án số 1034/2023/DS-PT ngày 31/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 1034/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
